Các
vua nhà Nguyễn và Công Giáo
Lời giới thiệu: Dức
Giáo Hoàng Gioan-Phaolô Ðệ Nhị đã long trong cử hành ngày lễ phong thánh
cho 117 vị tử đạo VN vào năm 1986, cộng sản VN đã nhân cơ hội này để vu
cáo cho Giáo hội Công Giáo là tay sai của thực dân Pháp qua những bài viết
trong và ngoài nước VN. Cụ thể là nhóm Thông Luận tại Pháp đã liên tục
nhiều số báo đả kích Công Giáo. Âm mưu thâm độc của Cộng Sản nhằm chia
rẽ và gây hiềm khích các tôn giáo. Bài viết sau đây có giá trị lịch sử
nhờ vào những sử liệu đúng đắn đã được anh Nguyễn Kim ở Canada đăng trên
newsgroup soc.culture.vietnamese trong năm 1998. Một lần nữa thành thật
cảm ơn anh Nguyễn Kim đã cho phép chúng tôi in lại bài viết này. Các hình
ảnh kèm theo đây được trích ra từ cuốn "Lịch sử Giáo hội Công Giáo" của
L.M. Bùi Ðức Sinh (Chân Lý Xuất bản SG- 1972)
Vài người trong chúng ta có lẽ chưa bao giờ biết
lịch sử truyền đạo CG vào Việt Nam một cách chi tiết cho tới khi đọc cuốn
"Việt Nam Giáo Sử" của Phan Phát Huồn, xuất bản vào năm 1965. Nếu chỉ dựa
vào vài sách sử, đặc biệt là "Việt Nam Sử Lược" của Trần Trọng Kim, thì
ta chỉ biết những tài liệu và sự phê bình tổng quát của sử gia về các giai
đoạn này mà thôi.
Ðã có nhiều sách nói về sự liên hệ giữa thực dân
và các nhà truyền giáo ở đây, chúng ta chỉ nói một phần nào việc theo "ngoại
đạo" và duy trì nó khổ sở ra sao của chính người Việt Nam trước sự bài
bác của các vị vua nhà Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức và
Hàm Nghi). Ðọc sách của ông Huồn, người ta mới khám phá rằng người theo
đạo CG bị bách hại vào các thời vua Nguyễn hay trước đó với mức độ ngoài
sức tưởng tượng.
Có thể nói, có người sẽ không khỏi tự hỏi tại
sao một số dân và triều đình ta lại quá tàn ác giết người kinh khủng như
thế. Sự bắt đạo đó hoàn toàn do sự bảo thủ u tối của các triều đình hủ
nho và sự kỳ thị của dân ta ở các thế kỷ trước, hơn là vì lý do chính trị.
Sự xung đột của các nền văn hóa Ðông-Tây, cũng như sự bảo thủ không nhân
nhượng của họ đã đem đến sự đau khổ cùng cực của những người theo đạo Gia-tô
đầu tiên tại VN. Chính các quan lớn trong triều và cả dân chúng theo các
đạo cũ từ trước - hầu hết có nguồn gốc xuất phát từ các nước lớn trong
vùng - nếu có dịp là giá họa và đổ tội rất nhiều cho CG, cho họ theo "tà
đạo" và như thế phải có liên hệ hay đứng bên kẻ xâm lược, "bán đứng" tổ
quốc. Người theo Tây không phải là ít nhưng có ai tự vạch áo mình là theo
đạo Phật, Khổng hay Lão. Ðừng nói chi đạo Gia-tô, ngay cả người theo đạo
Phật -- đã từng có thời nở rộ vào các triều đại Lý-Trần -- cũng đã bị bách
hại và đàn áp ngay sau đó (nhà Hồ của Hồ Quí Ly), hoặc dưới thời Tây Sơn,
hoặc thời vua Gia Long; lý do cũng chỉ vì do sự phát triển nhanh của nó
đã gây sự bất mãn của triều đình mà nền cai trị hoàn toàn dựa trên đạo
lý Khổng-Mạnh. Ngày nay, do văn minh và học rộng, đa số trong chúng ta
đều biết các trung tâm văn hóa cực mạnh tự nó đã phát triển lan rộng như
nước vỡ bờ trên toàn thế giới; mỗi quốc gia đã thu nhập và mang ảnh hưởng
ít nhiều các nền văn hóa lớn đó. Vì vậy, không ai có thể tự coi mình có
nền "văn hóa hoàn toàn thuần khiết" được. Sự va chạm giữa cũ - mới là lẽ
đương nhiên, nhưng sự không khoan nhượng và quá bảo thủ của người xưa đã
gây chết chóc cho khoảng 130,000 người tiên khởi theo đạo Gia-tô và cũng
là đồng bào của họ. Bài này có mục đích đưa ra một cái nhìn về vấn đề vừa
nêu ra dựa trên nhiều tài liệu được kê ra đây ó trong bài hoặc cuối bài,
nhưng chính yếu vẫn là dựa vào cuốn sách "Việt Nam Giáo Sử" của Phan Phát
Huồn, xuất bản vào 1965. Hãy bổ túc nếu có chỗ sai lầm.
Thế Tổ (1802-1820) : Gia Long
Thánh Tổ (1820-1840): Minh Mạng
Thế Tổ (1802-1820) : Gia Long
Gia Long là niên hiệu của Nguyễn Phúc Ánh
khi lên ngôi vua vào năm 1802. Sau 24 năm chống nhà Tây Sơn kể từ 1778,
vua Gia Long thống nhất được đất nước, đặt quốc hiệu là Việt Nam và đóng
đô ở Phú Xuân, tức Huế ngày nay. Sau khi bị Tây Sơn đánh bật ra khỏi xứ
và trốn tránh tại Hà Tiên thì Nguyễn Ánh gặp được Giám mục Pigneau de Béhaine
(Bá-Ða-Lộc) vào năm 1784. Bá-Ða-Lộc đề nghị NA nên cầu viện vua Louis 16.
Vào cuối năm, Bá-Ða-Lộc, Hoàng tử Cảnh, Phạm Văn Nhân và Nguyễn Văn Khiêm
sang Pháp. Thay mặt NA, BDL ký nhường cho Pháp đảo Côn Sơn và Cửa Hàn để
đổi lại việc Pháp giúp NA lực lượng và súng ống đánh Tây Sơn.
Hiệp ước Versailles được ký vào ngày 18/11/1787.
Tuy hiệp ước không thành hình, BDL vẫn đem về nước nhiều tàu bè súng đạn,
binh lính và nhiều người Pháp có tài giúp NA khôi phục nhà Nguyễn. Có người
cho rằng BDL đã thông đồng với Pháp để đặt nền bảo hộ trên đất nước ta,
nhưng dựa trên các điều khoảng của hiệp ước, không có khoản nào nói đến
sự bảo hộ ấy. Chính vì cho mình có chủ quyền nên NA mới trao đổi 2 vùng
trên cho việc giao thương.
Việc BDL tham gia vào chính trị cũng gợi một thắc
mắc. Tây Sơn đã sát hại người CG khắp nơi cũng chỉ vì thấy BDL ngã theo
NA. Chính phủ Pháp không giúp NA, nhưng chính BDL đi mộ người và mua tàu
bè súng ống. Theo BDL về VN có Chaigneau, Vannier, Forcan, Olivier, Dayot....
Họ không những là cố vấn quân sự mà còn là những chiến sĩ tận lực giúp
NA đánh Tây Sơn(1). Dayot thì chỉ huy toàn lực lượng hải quân và Olivier
chỉ huy lục quân. Cả 2 vị quan này đều ở dưới quyền chỉ huy của NA. Lúc
bấy giờ Tây Sơn bắt đạo CG dữ dội vì cho CG "là tay chân, là phần tử của
Nguyễn Ánh". (1) Theo Việt Nam Sử Lược, quyển II, trang 152 Ðến tháng 6
năm Kỷ Dậu (1798), ông Bá-Ða-Lộc và hoàng tử Cảnh đi chiếc tàu chiến Méduse
về đến Gia Ðịnh. Các tàu buôn chở súng ống thuốc đạn cũng lục tục sang
sau. Theo Bá-Ða-Lộc có những người Pháp tên Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng),
tức chủ tàu Long, Vanier (Nguyễn Văn Chấn, tức chủ tàu Phụng, De Forcant
(Lê Văn Lăng), Victor Olivier (ông Tín), Dayot...cả thảy 20 người tới giúp
Nguyễn Ánh. Sau đó, họ được phong quan tước để luyện tập quân sĩ, làm tàu,
đúc súng, và chỉnh đốn mọi việc vũ bị. Từ đó thế lực của Nguyễn Ánh mỗi
ngày một đông, lương thực nhiều, quân sĩ giỏi.... Dayot và Vannier cầm
quân rất giỏi và đã họp cùng Nguyễn Văn Trương và Nguyễn Văn Thành ra đốt
phá thủy trại của Tây Sơn ở của Thị Nại (cửa Qui Nhơn).(2) Mặt khác, theo
"Lịch sử nội chiến ở VN, 1771-1802" của Tạ Chí Ðại Trường, tr. 203 thì
sách này nói rõ hơn chính Bá-Ða-Lộc đã gom góp tiền bạc, khí giới lương
thực chất lên các tàu ông thuê ở Ile de France và ở Pondichéry đem về giúp
Nguyễn Ánh để có thể tiếp tục cuộc chiến tranh.
Các người theo sau Bá-Ða-Lộc đa số là những lính
thủy đào ngũ của Pháp. Dayot được phong làm Trí lược hầu tháng 6/1790,
trông coi chiếc tàu Ðồng Nai và có dự trận thủy chiến Thị Nại 1792, là
linh hồn và chủ tướng của thủy quân Nguyễn. Chỉ có riêng Olivier, nguyên
là binh nhì trên tàu La Dryade, ông trốn ở Poulo Condore ngày 19/9/1788
rồi theo Hồ Văn Nghị phục vụ Nguyễn Ánh khi mới 20 tuổi. Olivier dùng họa
đồ của Le Brun (Khâm sai Cai đội Thạch oai hầu) và cùng ông này xây thành
Gia Ðịnh theo kiểu Vauban. Olivier tổ chức quân đội theo lối Tây phương.
Chaigneau, Thắng toàn hầu, thay J.M. Dayot vào cuối năm 1792 trông coi
tàu Phi Long, có dự vào trận Thị Nai 1801, hoạt động ở Quảng Nam, Huế sau
đó và trông coi việc tiếp tế quân đội ở Phú Xuân. De Forcant coi chiếc
tàu Phi Bằng trong chuyến tấn công Quảng Nam, Huế (1801). Barizy, Thành
trí hầu, đến Gia Ðịnh năm 1793, giữ việc tiếp tế cho quân đội. Sau này
ông coi tàu Thoại Phụng trong trận chiếm cửa Thuận An (1801). Vanier tới
năm 1789 cùng lúc với Felix Dayot, em J.M. Dayot, chỉ coi việc tiếp tế
và sau đó coi tàu Phi Phụng với chức Cai cơ (1801) cho đến cuối năm 1802
thì được phong Chưởng cơ Chấn võ hầu. Despiau là viên thầy thuốc trong
quân đội(3)
Giáo hội CG cấm các nhà truyền giáo tham dự vào
chính trị mà chỉ lo giảng phúc âm. Hàng giáo sĩ báo cáo về Roma để phản
đối việc của BDL. BDL ước ao có sự giúp đỡ của Pháp để sau này giữa VN
và Pháp có một mối bang giao dễ dàng để có lợi cho việc truyền giáo. BDL
cố ý giúp NA mong rằng NA sẽ giúp đạo CG phát triển. Nhưng sự thật đã cho
ta thấy điều đó trái ngược với lòng mong ước của ông. Sau khi BDL chết
thì sự bắt đạo càng trở nên tàn bạo; như vậy những chỉ thị của Roma là
đúng. Lúc BDL còn ở Pháp, NA sang tá túc Thái Lan và giúp nước này đánh
tan quân xâm lăng người Miến Ðiện và Mã Lai. Lựa dịp lúc anh em Tây Sơn
đánh nhau và lòng dân còn lưu luyến nhà Nguyễn,nói chung dân chúng không
còn phục Tây Sơn nữa; vì vậy ta mới nghe câu :
"Lạy trời cho chóng gió nồm,
để cho chúa Nguyễn dong buồm thẳng ra"
NA đem quân về chiếm Long Xuyên, đánh thóc lên
Cần Giờ, rồi nhờ sự tài giỏi của Võ Tánh, lấy được Saigon vào 1788.
Vào lúc này BDL đã về nước với số quân như đã
nói trên. Ðây là lúc mà BDL giúp xây dựng lại nhà thờ và các họ đạo miền
Nam. Giáo dân lúc trước có vào khoảng 100,000, nay chỉ còn 60,000 vì đã
bị quân Tây Sơn giết chết. Khi đã thống nhất sơn hà, Gia Long phong Chaigneau,
Vannier (được phong chức và mang tên họ VN : Chấn võ hầu Nguyễn Văn Chấn)
và Despiau làm quan trong triều, mỗi người có 50 lính hầu và khi ra chầu
không cần lạy. GL tuy có công thống nhất sơn hà, nhưng ông nổi tiếng về
tính nhỏ nhặt giết hại công thần, như Nguyễn Văn Thành là người theo ông
từ khi mới khởi binh đánh Tây Sơn, hay Ðặng Trần Thường. Từ lúc BDL trở
lại VN, mặt ngoài thì GL khen sự tiến hóa của Tâ y phương, rất biết ơn
Bá-Ða-Lộc và tỏ thịnh tình vớI người CG, nhưng ông thực sự cả đời rất ghét
đạo CG, vì đạo này cấm người ta cưới nhiều vợ. Chính GL đã tuyên bố :"Ðạo
các ông là một đạo tốt lành nhưng nghiêm khắc quá, ai mà có thể giữ được
? Tôi không thể nào chỉ cướI một vợ" (Louvet trong "Mgr. D'Adran"). GL
tuy không học nhiều, nhưng thông minh, sắc sảo, có trí nhớ lạ thường và
hoạt động không ngừng. Các tướng tài dướI trướng là Võ Tánh, Lê Văn Duyệt,
Olivier và Dayot. Tuy nhiên vì tính cứng rắn và đa nghi, GL đã giết nhiều
công thần; vì thế nhiều người đã bỏ ông. BDL đã can ngăn và xin nếu chém
ai thì nên cho ông biết. BDL đã xin ân xá cho rất nhiều công thần và cả
đến những người Việt dèm pha ông nữa. BDL và GL có nhiều điểm bất đồng
cũng vì tôn giáo, theo Louvet trong "Mgr. D'Adran", vào năm 1797, là ngày
sinh nhật của Hoàng Tử Cảnh (sau chết vì bịnh đậu mùa), vua muốn ép một
ông quan có đạo lạy bài vị của tổ tiên nhà Nguyễn, nhưng ông quan kia thà
chết không vâng lời vua trong việc này. Quá tức, GL quát :
- Thằng khốn nạn, tao đã nuôi mày, tao đã ban
cho mày của cải danh vọng, thế mà mày từ chối không lạy tổ tiên tao ? Mày
vô ơn, vả lại tao có buộc mày bỏ đạo mày đâu, tao có bắt mày tế thần đâu,
tao chỉ bảo mày lạy bài vị để tỏ ra mày cung kính tổ tiên tao, tao hỏi
mày có cái gì ngăn cản mày vâng lời tao.
- Muôn tâu Hoàng Thượng, hạ thần vẫn luôn luôn
kính phục Hoàng Thượng, làm sao hạ thần dám khinh dễ tổ tiên của Hoàng
Thượng được ? Tổ tiên của Hoàng Thượng đã mất từ lâu, hạ thần không tin
các ngài còn ở trong bài vị. Vì thế đạo của hạ thần cấm lạy các bài vị.
- Tao cũng thế, nào tao có tin tổ tiên tao ở
trong bài vị bao giờ ! Nhưng tao bắt mày lạy để tỏ lòng mày biết ơn với
tổ tiên của tao, Ðức Giám Mục có bảo với tao nhiều lần; người CG có thể
lạy bài vị của ông bà tổ tiên, vì có gì là dị đoan ở trong việc đó.
- Hạ thần rất lấy là lạ, nếu DGM tuyên bố có
phép làm một việc mà lề luật công giáo cấm ngặt. Về phần hạ thần, hạ thần
sẽ không lạy bài vị.
- Vậy mày sẽ không lạy tao lúc tao đã chết ?
Liền đó các quan trong triều đổ thêm dầu :
- Tâu Hoàng Thượng, không, ông ấy sẽ không lạy
Hoàng Thượng. Ông đã tuyên bố nhiều lần, ông không lạy kẻ chết, ông chỉ
lạy người sống thôi.
- Thằng vô đạo ! Thế mà người ta vẫn bảo người
CG là những người trung thành, đuổi nó ra khỏi đền."
Sự thật GL đã nói dối cho là BDL đã quả quyết
cho phép người CG lạy bài vị. Vì GL và BDL đã cãi nhau từ lâu về vấn đề
này. Vào đời này của đạo, BDL và các vị Thừa Sai Pháp, các cha cố đều cho
việc lạy bài vị là một việc dị đoan, chỉ trừ các cha cố Jesuites quả quyết
là việc này không dị đoan chút nào. GL đã dựa vào đó để bắt lỗi BDL khi
có cơ hội. BDL chết vào 9/1799, trong lúc GL đang đánh thành Qui Nhơn.
Lúc trở về Gò vấp, GL khóc trong khi đọc một điếu văn thống thiết và phong
Bá-Ða-Lộc làm Thái-tử Thái phó Bi-nhu quận công. GL truyền xây lăng cho
BDL, cho một trung đội canh gát thường xuyên. Trước khi tắt thở vào năm
1820, GL còn truyền cho Minh Mạng về khoản lệ này.
Từ 1763, Tây Sơn đã cắt đứt sự giao thông giữa
Nam Việt và Trung Việt. Tây Sơn không bênh đạo nào; họ đi tới đâu thì chùa
chiền đều bị phá hủy; còn số phận của CG thì thê thảm hơn. Bề tôi Tây Sơn
khinh bỉ gọi người Tây phương là "những xác chết trôi từ biển Bắc xuống",
các nho sĩ gọi Phật giáo, Thiên Chúa giáo là "tả đạo".
Năm 1785, Nguyễn Nhạc ra lịnh cấm đạọ Vào 1797,
GL đánh Qui Nhơn và sai một đạo thủy quân đánh vòng lên Phú Xuân. Vua Cảnh
Thịnh (Nguyễn Quang Toản, con Nguyễn Huệ), khi bắt được một bức thơ Nguyễn
Ánh gởi cho một vị giám mục ở Phú Xuân, nghi ngờ người CG làm loạn nên
hạ lịnh đến 5/1798 phải nhổ sạch CG, dù cho các quan trong triều có can
ngăn. Có một số CG chạy thoát, số còn lại đều bị tử hình hoặc chịu các
hình phạt như bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng, bị đổ dầu vào rốn
rồi bỏ bấc mà đốt, bị buộc tóc rồi treo lòng thòng, buộc ngón chân và treo
ngược, buộc lại từng bó mấy người rồi để như vậy nhiều ngày, tẩm dầu vào
ngón tay rồi đốt, buộc vào cột rồi lóc thịt. (Ravier trong "Sử ký Hội
thánh").
Sau khi đánh ra Bắc Việt và bắt được vua tôi nhà
Tây Sơn, GL bắt đầu hành quyết từng người một. Cảnh Thịnh là người đầu
tiên. Mồ của cha mẹ Cảnh Thịnh (vua Nguyễn Huệ và Hoàng Hậu) bị quật lên,
hài cốt của họ bị bẻ gẫy và chặt đầu. Làm như vậy GL cố ý nhục mạ Cảnh
Thịnh và theo dị đoan, con cháu Quang Trung không còn tìm được hạnh phúc.
Sau khi bẻ xương cốt và "hành hình", xương được đổ vào cái sọt rồi cho
binh sĩ thay phiên nhau tiểu vào. Xong, xương được đập dầm ra tro và để
trước mặt Cảnh Thịnh. Theo thói tục, một mâm đồ ăn được dọn cho Cảnh Thịnh,
nhưng miệng ông thì bị khóa kín vì sợ ông chửi rủa. Chân tay Cảnh Thịnh
được buộc vào 4 con voi. Các mảnh xác của Cảnh Thịnh do voi xé được treo
ở 5 chợ trong thành phố Huế. Chỗ treo có lính gác để chờ cho thịt trở thành
dòi hay làm mồi cho quạ ăn. Chỉ có các tướng Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu
(ông dượng của Cảnh Thịnh, bà con qua Bùi Thị Xuân, Bùi Ðắc Tuyên) và Hoàng
thân Nguyễn Quang Thiệu là giữ được bình tĩnh khi bị hành hình. Tướng Trần
Quang Diệu bị chém đầu. Con gái mới 15 tuổi của ông cũng bị xử. Vợ ông
là nữ tướng Bùi Thi Xuân thì không tỏ ra sợ sệt, đi thẳng đến con voi,
quân lính bắt bà phải quì để voi túm bà cho dễ, nhưng bà không nghe. Lính
phải khích voi khá lâu thì voi mới chịu tung bà lên. Trước khi chịu cực
hình, bà đã tìm được lụa quấn sát vào mình để khỏi bị trần truồng khi bị
voi giầy xé. Binh sĩ đã lấy tim, gan và phổi của bà để ăn, còn tứ chi thì
đem cho loài cầm thú. Họ làm vậy để trả cái thù mà Bùi Thị Xuân đã làm
GL và binh lính ông run sợ khi bà vây thành Trấn Ninh. Dưới thời của ông,
GL không đàn áp mà cũng không nâng đỡ Công giáo.
Sau khi tiếp đón sứ thần Trung Quôc đến phong
vương vào 1803, Gia Long không còn là Nguyễn Ánh khi xưa nữa và bắt đầu
đối xử lạt lẽo với các nhà truyền giáo. Gia Long ra một sắc lệnh ngày 4/3/1804.
Về tôn giáo :
1.- Cấm xây chùa thờ Phật Thích Ca.
2.- Cấm sửa chùa nếu không có phép của quan Trấn
Thủ tỉnh.
3.- Cấm xây chùa mới để thờ thần.
Theo Louvet trong "La Cochinchine Religieuse"
: "Còn về đạo Bồ-Ðào-Nha là một đạo ngoại lai đã được truyền lén lút trong
nước và hiện nay vẫn còn, mặc dù triều đình đã cố gắng hủy bỏ cái đạo dị
đoan này. Hỏa ngục là một chỗ ghê gớm mà đạo này dùng để làm cho kẻ ngu
xuẩn khiếp sợ. Thiên đàng mà đạo hứa sẽ ban cho những người ngay lành là
một tiếng rất kêu để quyến rũ những đứa khờ khạo. Ðạo này đã được dạy trong
đám dân ngu. Một số khá lớn trong nước bị thâm nhiễm tà đạo và đã quen
giữ lề luật một cách mù quáng, không suy nghĩ và không sao mở mắt cho họ
được. "Do đó, từ nay trong các tổng, các làng có nhà thờ của ngườI CG cấm
sửa chữa hoặc xây dựng lại, còn cất nhà thờ mớI ở những nơi chưa có thì
cấm hẵn."
Nhờ các báo cáo của các vị thừa sai mà người ta
biết được phần nào đời sống của người CG vào thời này (1800-1830). Tín
hữu gia tăng, họ tìm cách sửa chữa thánh đường, việc thờ phượng thành công
khai. Ðiều mà người "lương" trách họ hơn cả là không làm lễ kính thờ ông
bà, tổ tiên, tuy nhiên việc làm đám tang của một ông quan CG cấp đô đốc
mất tại Cái Nhum đã làm vua và triều đình nhận thấy là CG cũng kính người
chết một cách nghiêm trang.
Theo Louvet trong "La Cochinchine Religieuse",
một vị quan đã thốt :
"Họ không ăn chơi, không trộm cướp. Mọi người
chỉ cưới một vợ và không đụng đến vợ người khác. Họ ngay thẳng và đơn sơ
không muốn làm hại người chung quanh. Một đạo sửa được cách ăn ở của con
người như thế phải là một đạo tốt hơn đạo của chúng ta."
Dĩ nhiên ông quan này nói quá, vì đâu phải người
CG nào cũng đều tốt.
Thánh
Tổ (1820-1840) : Minh Mạng
Vua Gia Long chết năm 1820, Hoàng thái tử
Ðảm lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng. Minh Mạng tinh thâm Nho học, sùng Khổng
Mạnh cho nên không ưa đạo mới, cho là tà đạo lấy trời thánh ra mà làm mê
hoặc lòng dân, ông mới nghiêm cấm và trừng trị người theo đạo Gia-Tô ("Việt
Nam Sử Lược" của Trần Trọng Kim). Trần Trọng Kim cho rằng Minh Mạng
không phải là bạo quân vì : "Phải biết rằng nước ta từ xưa tới nay, điều
gì cũng theo Nho giáo, lấy tam cương ngũ thường làm căn bản cho sự ăn ở.
Vua tôi, cha con, vợ chồng, ấy là cái khóa luân lý của xã hộI mình. Ai
tháo cái khóa ấy ra thì cho là không phải loài người nữa. Vậy con phải
theo cha, tôi phải theo vua, ai trái với cái đạo ấy ra phải tội nặng, đáng
chém giết.
"Lúc trong nước mình từ vua quan cho đến dân
sự, ai ai cũng cũng lấy cái lý tưởng ấy làm phải, làm hay hơn cả, mà lại
thấy có người đi theo đạo khác, nói những chuyện mà lúc bấy giờ lại không
mấy người hiểu rõ ra như thế nào thì tất cho là tà đạo, làm hư hỏng cái
phong tục hay của mình. BởI vậy cho nên nhà vua mới cấm, không cho người
trong nước đi theo đạo mới."
Trần Trọng Kim cho MM là "cấm không được thì
tất phải giết"; trong khi cấm và giết như vậy, MM sẽ không có lỗi vì
cứ tưởng mình làm bổn phận làm vua của mình và MM không biết là "mình
làm như vậy là sự thiệt hại cho dân cho nước". Ông viết tiếp :"Vả
lại, bao giờ cũng vậy, hễ người ta sùng tín một tôn giáo nào, thì tất cho
tôn giáo của mình là hay hơn, và cho người theo tôn giáo khác là thù nghịch
với mình, rồi hễ có quyền thế là làm thế nào cũng dùng cách mà hà hiếp
người khác đạo với mình... "Vẫn biết rằng sự giết đạo là sự không lành,
nhưng phải hiểu cái trí não người VN ta lúc bấy giờ, không rõ cái tông
chỉ đạo Thiên Chúa ra thế nào, cho nên dẫu không phải là vua Thánh Tổ nữa,
thì ông vua khác chắc gì đã tránh khỏi cái lỗi giết đạo ấy..."
Nói tóm lại là đứng vào một vai trò của nhà Nho,
ông đã cho việc làm của MM là không đáng trách cho lắm. Khác với GL, MM
không bao giờ tỏ ra thân thiện với ngườI ngoại quốc. Triều đình Pháp Louis
18 tìm cách điều đình để buôn bán với VN, nhưng MM không công nhận sứ thần
Eugene Chaigneau được gởi đến. Kết cuộc, việc ngoại giao đi đến chỗ bế
tắc. Theo Maybon trong "Lecture sur l'Histoire Moderne et Contemporaine
du Pays d'Annam" thì "theo ông Chaigneau thuật lại, chỉ một mình Lê Văn
Duyệt dám cãi MM và trách MM bỏ chính sách đối ngoại của Gia Long." Vào
khoảng 1823-1824, MM tỏ cho các quan biết rằng phải diệt "Tà đạo". Ðể bắt
dạo, MM theo 2 kế hoạch :
1.- Ngăn không cho các "Tây dương đạo trưởng"
bên ngoài vào.
2.- Tập trung các thừa sai đang giảng đạo trong
nước vào một khu vực. Tuy nhiên, một số thừa sai đã lẽn trốn vào VN được,
nhất là ở phía Nam. Trong khoảng thời gian từ 1825 đến 1830 có 6 "tên gián
điệp" lén vào Trung và Nam, trong đó có Marchand (cố Du). Tín đồ VN giúp
cho các "tên gián điệp", không kể đến quốc tịch này, vào để giúp đỡ họ
giữ vững lòng tin và đời sống tinhthần trong khoảng thời gian vô cùng khó
khăn này.
Theo Louvet trong "La Cochinchine Religieuse",
để áp dụng mục tiêu thứ nhất, vào 12/2/1825, MM hạ dụ cấm đạo : "Tà
đạo của Tây phương làm hại lòng người. Ðã lâu nay nhiều chiếc tàu của Âu
châu sang đây buôn bán thường để lại các ngư ời đạo sĩ ở đây. Các người
ấy làm mê hoặc lòng người và bại hoại phong tục. Như thế chẳng phải là
cái tai họa lớn cho nước ta sao ? Vậy ta nên ngăn cấm điều bậy bạ để khiến
cho dâ n ta quay về chính đạo" - Khâm Thử.
Ðối với mục tiêu thứ hai, MM tập trung các thừa
sai lại một chỗ, viện cớ rằng từ ngày ông cho 2 viên tướng thời Gia Long
là Vannier và Chaigneau về Pháp thì triều đình cần các thừa sai làm thông
ngôn. Các thừa sai ở Bắc thì trốn được, nhưng những người ở Trung và Nam
đều bị bắt và tra hỏi. Tại Huế, các thừa sai được trú tại dinh dành cho
các đại sứ, được tự do đi lại một thời gian ngắn, làm việc dịch thuật và
nghiên cứu sách vở cho MM. MM rất thích địa dư; do đó ông nhờ các "gián
điệp" này dịch bản đồ cho ông. MM muốn neo các vị thừa sai này dưới sự
khống chế của triều đình bằng cách trao tặng họ các văn bằng và công khai
nhận vào làm quan. Họ làm tờ khiếu nại, nhưng MM chẳng trả lời. Các thừa
sai ở Nam thì bị giam lỏng; các vị ở Huế thì được dân giúp đỡ ngầm bằng
cách đút lót cho lính để họ có thể trốn ra đi làm lễ. Không được ở gần
giáo hữu của họ, các vị này bèn cho người đến Thành Gia Ðịnh cầu cứu Tả
quân Lê Văn Duyệt, người được xem ngang hàng về dũng lược với tướng Trần
Quang Diệu của Tây Sơn. Ðược tin, LVD về Huế vào tháng 8/1827 thuyết cho
MM nghe là việc của vua là trái, đi ngược lại chính trị rộng rãi và khôn
ngoan của Gia Long. Ðồng thời LVD còn trình ra các hồ sơ nói lên công lao
to lớn của Bá-Ða-Lộc vớI nhà Nguyễn ("Histoire de la Cochinchine Francaise"
của Cultru). Nghe những lời thành thực và cứng rắc của LVD, MM buộc phải
ngưng lại âm mưu của ông và thả "tù nhân" về. Tuy nhiên, MM không bao giờ
quên chuyện can thiệp này của Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt, một lão thần
và kiện tướng thời Gia Long, có thế lực, có kinh nghiệm cai trị; tuy dân
Gia Ðịnh sợ Tổng Trấn Lê Văn Duyệt nhưng họ vẫn mến ông vì sự thẳng thắn.
Chính vì thế Gia Long đã đặt tất cả sư tin cậy nơi ông. MM ít khi nghe
lời khuyên của LVD mà nhiều khi còn làm ngược lại. MM thù LVD có lý do
là vì LVD đã phản đối việc chọn MM lên làm vua. MM ghét LVD mà không làm
gì được vì ông là người có uy thế lẫn trong và ngoài nước như Anh, Pháp,
Thái lan, Miến Ðiện ("Văn Hoá Á Châu" của Thái Văn Kiểm). Khi Lê Văn Duyệt
chết, vị vua "thâm Nho học" kia đã hủy bỏ chức vị của LVD, cho quan tới
bắn vào mã, san bằng mộ, đánh 100 roi lên mộ, khắc bia đá với các chữ "Chỗ
tên hoạn quan to quyền LVD chịu phép nước". Về sau vua Tự Ðức đã đền tội
cho MM bằng cách tu bổ, lập lại mộ của tướng LVD tại xã Bình Hòa, tỉnh
Gia Ðịnh và truy phục chức tước cho ông. Theo "Việt Sử Toàn Thư" của Phạm
Văn Sơn, sau khi lên ngôi, Gia Long đặc trách Nguyễn Văn Thành làm một
bộ luật mới gọi là "Luật Gia Long" (Hoàng Việt Luật Lệ; soạn xong vào 1812;
năm 1815 được in thành sách để phô biến trong dân chúng) . Theo "Lịch sử
nội chiến ở VN" của Tạ Chí Ðại Trường , việc chép toàn bộ luật nhà Thanh
sang bộ luật Gia Long được giao cho Ðặng Trần Thường. Tính cách Trung Hoa
hóa này của VN sau cuộc chiến tranh là một chứng cớ tủi hổ nhất của sự
thu nhận văn hóa từ ngoài vào. A. Masson (Histoire de l'Indochine, Paris,
PUF, 1950; ấn bản 1961 đổi là Histoire du Vietnam) đã lưu ý nhiều điểm
tương tự như vậy coi như là một định luật trong lịch sử VN, khi mỗi lần
người Việt củng cố độc lập là một lần tiến tới gần Trung Hoa hơn. Ðiều
này có thể hiểu được khi nhìn vào ưu thế thực dụng, có hiệu quả về tổ chức
kết hợp xã hội theo ý thức hệ Khổng giáo ở ven bờ biển Ðông. Khi đem toàn
bộ luật của nhà Thanh ra chép gần trọn nguyên văn để áp dụng cho Việt Nam,
bộ luật của Thanh triều làm cho chế độ của VN trở thành rất cay nghiệt
vì vua quan nhà Thanh là người Mãn Châu vào thống trị Hoa tộc. Chính vì
áp dụng nó mà nhà Nguyễn thiếu khoan hòa, nhân hậu. ở Nền tư pháp thời
Minh Mạng :
1) Pháp đình: dưới 3 thời Minh Mạng, Thiệu Trị
và Tự Ðức, các tù nhân đa số là CG. Việc tra hỏi được đưa tới 3 nơi :
A- Phủ Thừa Thiên : Bắt đầu từ năm 1832, tỉnh
Quảng Ðức (Vertue largement développée) được đổi thành Thừa Thiên (Mandataire
du Ciel). Dinh làm việc của quan đầu tỉnh gọi là Thừa Thiên Phủ; Ðề Ðốc
thì chỉ huy quân sự toàn tỉnh; về mặt hành chính thì đã có vua thành ra
không có Trấn Thủ hoặc Tổng Ðốc, nhưng chỉ có một ông Phủ Doãn và một quan
phụ việc, gọi là Phủ Thừa. Dưới thời MM, việc giảng "tà đạo" (qua thời
Minh Mạng, Phật giáo không còn được giới nho sĩ gọI là "tà đạo" nữa như
dưới thời Tây Sơn) là trọng tội nên phạm nhân thường được đưa sang bộ Hình,
một tòa án có thẩm quyền hơn Thừa Thiên Phủ. Phủ Thừa Thiên, ở góc Bắc
của kinh thành Huế, chia làm 3 trại : giữa của Ðề Ðốc, phải của Phủ Doãn
và trái của Phủ Thừa; phía sau là trại lính và lao xá.
B.- Bộ Hình : theo luật thì nơi đây chỉ xử những
tội nhân đã qua các tòa án ở Phủ để hủy án và cải án. Tuy nhiên, nơi đây
được MM cho xét xử các linh mục, thừa sai hay tín hữu bị bắt gần Huế. Tòa
án gồm ông Thượng Thư Chánh án và 2 cố vấn : Tham tri và Thị lại. Nơi pháp
đình, quan Thượng Thư ngồi trên bệ cao, 2 bên là 2 quan cố vấn. Bị cáo
không được vào trong pháp đình mà đứng ngoài sân ở bậc cấp của pháp đình;
xung quanh anh ta là quân lính cầm roi hoặc các khí cụ tra tấn, mục đích
là làm cho bị cáo nhận tội và khai đồng lõa. Quan tòa ngồi trong pháp đình
hỏi vọng ra bị cáo; người này đứng ngoài trả lời vào. Bị cáo có thể đứng
hay quì hay nằm sấp, tay chân bị cột chặt vào nọc(cây); nếu bị cáo trả
lời không rõ ràng thì lập tức bị tra tấn. Nếu bị cáo chối đạo hay bỏ đạo
thì được tha ngay. Có nhiều thừa sai được dẫn tới đây, trong đó có Marchand.
C.- Toà Tam Pháp (Le Tribunal des Trois Pouvoirs)
: Tòa án tối cao và gồm 3 tòa : toà Ðại Lý Thị (le Tribunal d'Appel au
Roi), tòa Ðô Sát (le Tribunal des Censeurs), tòa Bộ Hình (le Tribunal du
Ministère de la Justice). Nơi đây xét xử những việc đệ lên vua, tất cả
những khiếu nại từ bộ Hình hoặc Phủ. Nơi đây còn có thể xét những trường
hợp đặc biệt. Các dụ cấm đạo thường treo ở ở Phú-Văn-Lâu.
2) Lao Xá : Trong thời kỳ này lao xá dành cho
bị cáo gọi là Trấn Phủ và dành cho người bị kết án là Khám Ðường. Ngoài
các nơi này ra thì các nơi sau đây cũng có giam người như trại Võ Lâm,
Cung Quán... Nhiều vị thừa sai đã chết rục tù tại những nơi này.
3) Pháp trường : các tội nhân bị giam trong Khám
Ðường nếu không bị tù chung thân hoặc bị lưu đày thì bị xử chém. Các nơi
như chợ An Hòa, Bãi Dâu, họ Thợ Ðúc là những nơi mà các vị thừa sai và
"dân ngu, mù quáng theo đạo Gia Tô" đã bị xử chém. ở Nội chiến : vụ án
Marchand (cố Du) Lúc Gia Long còn sống thì uy thế của ông lừng lẫy. Cả
Cao Miên và Lào đều sang triều cống. Thái Lan không ra mặt nhưng vẫn tìm
cách lấy lại quyền bảo hộ 2 xứ kia. Theo Việt Nam Sử Lược và Việt Sử Toàn
Thư, bọn quan liêu thối nát hay hiếp đáp dân chúng làm cho họ chán ghét;
quan còn tố cáo lẫn nhau, tâng công, nịnh hót mà vua thì không công minh,
nhất là đối với công thần. Nhiều người trung lương đâm ra chán nản, trái
lại phe gian nịnh nẩy nở một ngày một nhiều. MM thì hẹp hòi với công thần,
hay kiếm chuyện làm họ uất ức cho nên có loạn từ Nam chí Bắc. May nhờ có
các tướng tài như Trương Minh Giảng, Tạ Quang Cự, Lê Văn Ðức, Nguyễn Công
Trứ ra sức dẹp giặc, trong nước được yên mà bờ cõi lại được mở mang. Trong
các giặc nổi loạn người ta thấy có Phan Bá Vành nổI lên ở Nam Ðịnh, Nông
Văn Vân ở Tuyên Quan, Thái Nguyên, Cao Bằng.
Một phần nhân tâm ngoài Bắc còn luyến tiếc Lê
triều; Lê Duy Lương, tự xưng là con cháu nhà Lê, nổi lên ở Ninh Bình. Ngoài
ra phải kể tới giặc Lê Văn Khôi có liên hệ tới cố Du hay thừa sai Marchand.
Miền Nam là do Gia Long khai sáng mà lại có chuyện nổi lên chống MM. Sau
khi Lê Văn Duyệt mất, Nguyễn Văn Quế được cử thay làm Tổng Ðốc Gia Ðịnh,
Bạch Xuân Nguyên làm Bố Chính. Nguyên là người tham lam và tàn ác. Nguyên
vâng lịnh làm Bố Chính ở Gia Ðịnh để điều tra và trị tội những ai có liên
hệ với LVD, trong đó có Lê Văn Khôi. Khôi gốc người Cao Bằng và là em vợ
của Nông Văn Vân, có lần nổi lên làm loạn, bị đánh thì chạy vào Thanh Hóa
và đầu thú LVD. LVD nhận Khôi làm con nuôi rồi cải tên thành Lê Văn Khôi.
Bị bắt, Khôi sợ bị tội nên cùng với số tù nhân nổi lên giết cả Tổng Ðốc
và quan Bố Chính, chiêu mộ binh sĩ chống lại MM. Cuộc cách mạng của Khôi
nhằm lật đổ MM để lập con của Hoàng Tử Cảnh, cháu đích tôn của Gia Long
lên làm vua. MM nghe tin, truyền lệnh thủ tiêu đứa cháu và chị dâu. Sử
vào thời này, nhất là cuốn "Gia Ðịnh Thống Chí" của Trịnh Hoài Ðức không
kể tới chuyện MM giết chị dâu và đứa con thứ hai của bà. Cuốn này cũng
không bao giờ nhắc tới công trạng của Bá-Ða-Lộc vì MM không thích ông ta.
Theo lời truyền khẩu thì MM vì sợ mất quyền đã làm tuyệt tộc nhánh của
Hoàng Tử Cảnh và ăn ở với chị dâu; khi chị dâu này có thai thì MM lên án
cả mẹ lẫn con; nhưng vì là hoàng tộc nên được ban ân huệ chọn 3 thước lụa
hồng hay là một thanh gươm để "được" chết. Do sự tàn bạo của MM, nên Lê
Văn Khôi được nhiều từng lớp trong xã hội hưởng ứng. Tống Phúc Lương và
Trương Minh Giảng đem thủy quân vào vây Gia Ðịnh; Khôi chạy sang Thái Lan
cầu cứu . Lựa dịp này Thái Lan giúp Khôi 5 đạo quân đánh vào Nam Vang,
Hà Tiên. Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đánh bạt Thái Lan ra khỏi bờ
cõi vào 1834. Thành Gia Ðịnh của phe LVK thất thủ vào 1835; LVK chết già
ở Thái Lan. Trong số ngườI bị bắt và đóng cũi gởi về kinh có thừa sai Marchand.
Sử gia Schreiner, trong "Abrégé de l'Histoire d'Annam", quả quyết là Marchand
muốn đóng vai trò của Bá- Ða-Lộc giúp Khôi để lập một nước theo đạo Công
giáo. Ông lý luận : "Lê Văn Khôi chống lại chính quyền nhà Nguyễn ở
Huế cũng như Nguyễn Ánh dã chống lại chính quyền Tây Sơn ở Huế. LVK cũng
như Nguyễn Ánh chiếm đóng Nam Việt nhưng không có sức giữ nổi. Khôi muốn
nhờ thanh thế của thừa sai Marchand để quyến rũ Công giáo gia nhập phong
trào cách mạng chống lại triều đình như xưa Nguyễn Ánh nhờ Bá-Ða-Lộc. Marchand
sẽ là một nhân vật có tên tuổi trong lịch sử nếu cuộc cách mạng của LVK
thành công, nhưng vì LVK thất bại nên Marchand lại là một thừa sai tử vì
đạo. Marchand là một linh mục không quả quyết. Hoặc là Marchand từ lúc
đầu khước từ không giúp Khôi bằng cách chạy trốn và như vậy Công giáo sẽ
không bị liên lụy, hoặc là Marchand muốn giúp thì phải giúp cho Khôi thành
công và như thế thì có lợi cho Công giáo." Schreiner đã bịa chuyện.
Theo Louvet trong "La Cochinchine Religieuse", Khôi không phải Công giáo,
nhưng Khôi hứa là nếu cách mạng thành công thì ông sẽ bênh vực cho họ.
Một số có gia nhập quân của Khôi nhưng rất ít, vì trong số 1994 người bị
giết chỉ có 70 người công giáo, trong số ấy có 40 người đàn bà và trẻ con
chạy trốn vào thành khi Trương Minh Giảng tới. Theo Taboulet trong "La
Geste Francaise en Indochine", ông nói, trong 499 người bị xử thì có 66
người công giáo; vậy mà Nguyễn Văn Quế, trong "Histoire Les Pays de L'Union
Indochinoise" , dám viết là "On enterra en tout 1831 révoltés dont beaucoup
de chrétiens en un seul "Mã Ngụy" plaine de tombeaux". Khôi có nhờ Marchand
ký những lá thư kêu gọi người Công giáo chống lại MM, nhưng Marchand đã
khước từ. Theo Louvet, Marchand đã gởi thơ cho giám mục Taberd báo cho
biết là ông không định đi đâu hết mà cứ ở lại họ Chợ Quán dù người ta đồn
là ông ủng hộ Khôi. Vào sáng ngày 8/9/1835, trong lúc Marchand vừa làm
lễ xong, đang thay áo thì quân đội chiến thắng của Trương Minh Giảng tràn
vào đánh Marchand chúi nhũi và bắt ông. Quân đội này đã nghe đồn rằng quân
của Khôi là quân của công giáo, nên ngoài Marchand ra họ còn bắt một linh
mục người Việt và cha sở họ Chợ Quán người Hoa. Marchand, các tướng của
Lê Văn Khôi và đứa con mới 7 tuổi của Khôi bị đóng cũi đưa về Huế. Ngày
15/10/1835, Marchand đến Huế cùng các tù nhân khác. Sau đó ông bị tra hỏi
trước tòa Tam Pháp :
- Ông có phải là Phú Hoài Nhân không ? (PHN
là tên Việt Nam của giám mục Taberd).
- Không. Tôi không phải là Phú Hoài Nhân.
- Ông ấy bây giờ ở đâu ?
- Tôi không biết vì đã lâu chúng tôi không
gặp nhau.
- Ông đến nước này từ bao lâu ? - Từ 5
năm nay.
- Trong những năm đầu ông ở đâu ?
- Trước hết ở Lái Thiêu, sau tôi đi ở nhà
những người mà nay họ đã chết cả rồi.
- Ông có giúp Khôi làm giặc không ?
- Không. Ông Khôi đã dùng vũ lực bắt tôi
vào thành Saigon. Tôi không biêt gì đến việc chiến tranh. Tôi chỉ biết
cầu nguyện và hành lễ.
- Có phải ông gởi thư qua Thái Lan và cho
các họ đạo ở Ðồng Nai để yêu cầu họ giúp phiến loạn không ? - Ông Khôi
đã bảo tôi làm nhưng tôi khước từ, tôi cho đạo tôi cấm làm điều ấy... Tuy
nhiên Khôi vẫn đem thư đến cho tôi nhưng tôi đã lấy các thư ấy bỏ vào lửa.
Ðến lượt 4 tướng của LVK bị tra hỏi. Họ đã từng
bất mãn vì Marchand đã không giúp họ thành công và họ mong MM sẽ tha nếu
như họ tố cáo ông cố đạo xúi dân làm loạn, vì họ biết MM ghét người công
giáo. Sau đó, họ tố là LVK khởi loạn vì nghe lời xúi của giám mục và các
thừa sai để đem An Hòa, con Hoàng Tử Cảnh, lên ngôi. Rồi An Hòa hứa sẽ
theo đạo. Chính Marchand là linh hồn của cuộc dấy loạn. Các thừa sai bên
ngoài sẽ xúi Thái Lan đem quân đánh Việt Nam và có thể xin cứu viện từ
Âu châu (trong "Annales de la Propagation de la Foi", volume IV : theo
lời dụ khị, Lê Văn Khôi dấy loạn theo lệnh của Kiến An để phò An Hòa lên
ngôi). Nghe lời cáo buộc, MM liền ra lịnh tra tấn Marchand, vì nổi loạn
là tội không thể tha thứ. Tối 17/10/1835, Marchand được dẫn tới trước lò
lửa trong trong toà Tam Pháp. Khi Marchand không nhận tội, lý hình rút
trong đống lửa những cây kìm nóng hổi, kẹp mạnh vào hông Marchand để xé
từng mảnh thịt. Sau đó, Marchand vẫn không nhận tội; lý hình lại tra tấn.
Marchand vì đau đớn rên lên mấy tiếng nhưng không phải chửi vua. Ngày 19/10/1835,
ông lại ra tòa, nhưng không bị cực hình vì người ta sợ ông chết trước ngày
xử tử. Marchand, 3 "dồng lõa" (một tướng của LVK đã chết khi bị tra khảo)
và đứa con nhỏ 7 tuổi của LVK phải bị xử "lăng trì".
Theo Philastre trong "Le Code Annamite", xử "lăng
trì" hay "bá đao" sẽ như sau :
Người lý hình xẻo từng miếng thịt cho đến
lúc người bị xử chỉ còn xương; nếu người ấy là nam thì anh ta sẽ bị cắt
cơ quan sinh dục; nếu là nữ, lý hình sẽ dùng vải ém vào cơ quan ấy rồi
mổ bụng để lòi ruột. Họ sẽ lôi từ từ để người bị xử chết thật chậm chạp.
Bản án của Marchand :"
Tây Dương Ma-Sang, kêu là Danh-Du, là Gia Tô Giáo
Trưởng phò ngụy Khôi; đã chịu tội có viết thư xin Hồng Mao sang giúp ngụy
hầu. Lệnh truyền xử bá đao." Trong các sách sử như của Nguyễn Văn Quế (Histoire
des Pays de l'Union Indochinoise), Nguyễn Văn Mùi (Lịch sử Việt Nam) và
Lê Thành Khôi (Việt sử : 1788-1884 hay "Le Vietnam"), họ đã buộc tội Marchand
mà không chịu nghiên cứu kỹ càng các chi tiết về những bức thơ mà ông gởi
cho giám mục Taberd. Ngày 30/11/1835, các tử tội được đưa ra cửa Ngọ Môn
giữa 2 hàng rào lính. Ngồi trên Ngũ Phụng Lầu, MM truyền dẫn các tội phạm
cho ông xem mặt rồi thảy lá cờ xuông đất cho phép dẫn các tử tội đi tới
họ Thợ Ðúc để hành hình. Trước đây, nơi này cũng là nơi một vị linh mục
người Việt đã bị xử tử. Marchand là linh mục công giáo nên mật lệnh của
"Thánh Tổ Hoàng Ðế" ra lịnh xử một cách ghê gớm hơn. Marchand được khiêng
trên cáng tới pháp trường. Khi thấy lò lửa thì ông rùng mình lên. Dân chúng
thấy vậy thì cười. Sau khi nghe tiếng hiệu, 2 người lính chạy đến chụp
lấy chân Marchand không cho cục cựa, 5 người lính khác tới lò lửa lấy 5
cái kìm lớn rồi kẹp vào 5 chỗ khác nhau ở mông và bắp vế của ông. Sau khi
kìm nguội đi, họ mới buông ra và đem kìm tới lò lửa để nung lại. Quan tòa
hỏi Marchand :
- Vì sao trong đạo Công giáo các ông móc mắt
người gần chết ?
- Không bao giờ.
- Những cặp vợ chồng trước lúc cưới nhau, đến
trước bàn thờ làm cái trò gì ?
Marchand ráng trả lời :"Ðôi vợ chồng đến để xin
vị linh mục công nhận và ban phép lành cho việc hôn phối của họ trước mặt
anh em giáo hữu."
- Các ông có làm những điều quái gở trong lúc
tiệc trà ở nhà thờ không ? Với giọng khàn khàn, Marchand nói :
- Chúng tôi không làm điều gì quái ác.
- Vậy ông đã cho họ ăn cái thứ bánh gì đến nỗi
họ trung thành đến thế?
Cứ mỗi lần hỏi và trả lời, lính cứ hành hình
Marchand. Chưa trả lời câu hỏi chót, Marchand đã ngất đi.
Vì sợ tử tộI chết trước khi chịu tử hình nên họ
ngưng tra tấn. Khi thấy Marchand bị hành hình độc ác với chứng cớ quá mơ
hồ, vị quan hành hình không khỏi kính phục và thương xót. Ông kêu người
lính và nói :
- Hỏi ông Tây xem ông ấy có muốn ăn gì không ?
Marchand trả lời cám ơn vì ông không muốn ăn
gì hết.
Các tù phạm khác thì còn dùng bữa ăn cuối cùng.
Sau đó, lính bỏ vào miệng họ một hòn sỏi để họ khỏi chửi rủa khi bị đau
đớn đến cực độ. Theo Louvet trong "La Cochinchine Religieuse", 5 cây cọc
được dựng lên và các tử tôi được buộc vào một thanh gỗ ngang. 2 lý hình
đứng 2 bên tội nhân, sau lưng lý hình có các binh sĩ cầm sẵn các roi mây
để kích thích lý hình làm phận sự cho chu đáo vì họ phải đối diện với cách
hành hình man rợ này.
Marchand bị cột vào cây thứ hai. Hai bên ông là
2 lý hình, một cầm kìm, một cầm dao phay. Một hồi trống vang lên. Khi tiếng
trống im đi, một lý hình dí kìm vào ngực ông và xé 2 miếng thịt ở ngang
vú rồi liệng xuống đất. Say máu, lý hình cắt ở đằng sau 2 miếng thịt tọ
Kế đó, họ móc bắp vế; Marchand cựa quậy. Dưới một lát dao phay, một miếng
thịt khác rơI ra. Ðầu Marchand gục xuống... Ðó là vào khoảng 7 giờ sáng
ngày 30/1/1835. Sau khi Marchand tắt thở, một lý hình chặt đầu ông và bỏ
vào một chiếc thúng đầy vôi. Họ cởi cái xác ra khỏi cọc rồI lật sấp xuống.
Sau đó, lý hình chặt thân mình Marchand ra theo bề dọc, rồi bề ngang. Các
phần thi thể của ông được mang đi liệng ngoài biển. Ðầu của ông được mang
đi treo ngoài chợ ở các tỉnh; sau đó bỏ vào cối để xay.
Câu chuyện của Marchand đã được nghiên cứu bởi
Vatican vì nhiều tài liệu tố cáo ông là dân nổi loạn và điều này cần phải
làm sáng tỏ. Sau khi điều tra về những lời tố cáo, người ta đã phát hiện
là ông bị oan; vì vậy ông đã được phong á thánh vào năm 1900.
1.1 Cấm đạo dưới triều Minh
Mạng (1830-1840)
1. Minh Mạng và người ngoại quốc :
Một
quốc gia tự cô lập. Nhiều sách sử được ra lệnh viết bởi MM đã bênh vực
cho "Thánh Tổ Hoàng Ðế", tuy nhiên có một công thần đã dám nói lên sự sai
lầm của ông : Lê Văn Duyệt. Việc dựng tội cho Lê Văn Duyệt bởi vị Thánh
Tổ này đã được ghi trong sử sách như đã kể trên. Nước ta thường lên tiếng
tố cáo dân tộc khác là thực dân, bóc lột và có dã tâm đồng hóa VN, nhưng
thực tế ta đã không khác gì nước Pháp, nước Anh hay nước Tàu, đã xâm chiếm
và đồng hóa Chiêm Thành và Chân Lạp (dưới danh nghĩa "mở rộng bờ cõi"),
bảo hộ Cao Miên và Lào (hòa ước La-Bích; 1813). Lê Văn Duyệt xây thành
Nam Vang và La Lâm. Nguyễn Văn Thành là quan Toàn Quyền đầu tiên của Việt
Nam trên đất Cao Miên. Vào thời Gia Long, Anh quốc tới xin buôn bán, nhưng
Sir Roberts trở về tay không. Vào 1808, một đoàn gồm 7 chiếc tàu Anh cập
bến Hà Nội; tất cả đều bị đốt.
Năm 1817, Louis 18 phái thuyền trưởng A. de Kergariou
điều khiển tàu Cybèle mang quốc thư đến VN, được Gia Long tiếp đãi nhưng
Gia Long đã khước từ đem Cửa Hàng và Côn Sơn giao cho Pháp vì Pháp đã không
thi hành hiệp ước Versailles. Gia Long nói rằng những người Pháp giúp ông
là do họ tình nguyện chớ không do Pháp áp dụng hòa ước. Theo "Việt Nam
Sử Lược", lý do có sự ngăn trở cho việc giao thiệp với các nước ngoài dưới
thời MM :
1.- Cấm giảng đạo Thiên chúa và
2.- Không hiểu thời thế, cứ tự cho mình là nhất,
thông minh hơn người, không chịu học tập như người khác mà theo đường tiến
bộ. Về việc buôn bán với nước ngoài thì đã có lai rai từ các thế kỷ 17
và 18, nhưng việc giảng đạo thì bị cấm.
Vào thờI Gia Long, tuy việc giảng đạo khá hơn,
nhưng sang Minh Mạng, vì chú trọng về việc giáo hóa, lấy Nho giáo làm trọng
nên cho các tôn giáo khác là tà đạo. Bắt dân bỏ tà theo chính : đó là nguyên
nhân việc bắt đạo. Sự quá bảo thủ của triều Nguyễn vào giữa thế kỷ 19,
làm giảm thiểu đến mức tối đa các sự tiếp xúc với người ngoài, được biểu
hiện bằng cách cố ý hạn chế các hoạt động của các nhà truyền giáo và các
thương gia ngoại quốc trên đất nước ta. Việc bắt đạo đã ảnh hưởng lây đến
việc buôn bán vớI nước ngoài. Vì triều đình thấy thỉnh thoảng có chiếc
tàu buôn lại, thì có một vài giáo sĩ vào giảng đạo, ngăn thế nào cũng không
được, tưởng là họ có ý dò thám gì chăng. Lòng nghi ngờ của triều đình MM
càng gia tăng. Vả lại vào lúc này, không có người ngoại quốc trong nước,
chỉ trừ một vài người Pháp làm quan tại triều; họ đã theo giúp Gia Long
dựng nên nhà Nguyễn. Khi Gia Long còn sống, Jean Baptiste Chaigneau có
xin về Pháp nghỉ ngơi; tới năm 1821, Chaigneau trở lại thì nhận chức lãnh
sự và khâm sai cho Louis 18, đem theo phẩm vật và quốc thơ sang điều đình
việc thông thương với nước ta. Khi Chaigneau tới nơi thì Gia Long mất.
Theo Michel Ðức Chaigneau trong "Souvenirs de Hue", thì MM tiếp Jean Baptiste
Chaigneau theo nghi thức ngoại giao và hứa đối xử vớI Chaigneau như với
một quan đại thần. MM trả lời cho Pasquier, bộ trưởng ngoại giao Pháp,
bằng chữ Tàu (chữ Nho) rằng nước VN có những luật lệ rõ ràng, những người
ngoại quốc đến buôn bán đều phải giữ, như vậy giữa VN và Pháp không cần
gì phải làm điều ước về việc thương mại cả.
Ngày 28/2/1822, một tàu chiến của Pháp mang tên
Cléopâtre vào Cửa Hàng (Ðà Nẳng), người quản tàu tên Courson de la Ville
Hélio nhờ Chaigneau xin được tiếp kiến. MM từ chối. Vào 7/1822, một tàu
Anh xin vào Ðà Nẳng, MM cũng từ chối. Thấy càng ngày MM càng làm găng với
người ngoại quốc, lạt lẽo với mình, tự thấy không làm được gì hữu ích,
ngày 11/12/1824, Jean Baptiste Chaigneau và Vannier yết kiến MM xin từ
chức. Ngày 11/ 12/1824, 2 ông rời Cửa Hàng vào Saigon gặp Lê Văn Duyệt.
LVD tiếp đãi 2 ông rất thịnh tình và gởi quân canh gác nhà cho họ Vào cuối
1824, 2 ông về Pháp.
Năm 1825, Ðại Tá Thủy quân Bougainville mang 2
tàu chiến Thétis và Espérance vào cửa Ðà Nẳng, đem phẩm vật và thơ của
Louis 18 cho MM. MM tức tối trả lời :" Không ai có thể đọc thư của vua
nước Pháp, nên chúng tôi không thể nhận". Tuy nhiên MM vẫn cám ơn Bougainville
đi từ xa đến và ban phẩm vật lại cho Bougainville. Sang năm 1826, chính
phủ Pháp sai cháu của Jean Baptiste Chaigneau là Eugène Chaigneau sang
làm tùy viên quân sự, nhưng MM không nhận, rốt cuộc Eugène Chaigneau phải
trở về (1829). Rồi từ đó cho tới 10 năm sau (1829-1839) nước Pháp không
còn muốn giao thiệp với VN nữa. Lúc bấy giờ, ngoài các giáo sĩ trốn trong
các thôn giả ở VN để giảng đạo, không còn môt người ngoại quốc nào muốn
ghé VN nữa.
2. Lý do cấm đạo :
Xã hội của chúng ta vào thời này là bảo thủ hay cởi mở, bao dung hay khắt
nghiệt ? Luật lệ được áp dụng là luật thống trị của người Mãn-Thanh, xã
hội và phong tục phong kiến của Nho gia. Sau này, vào thời Tự Ðức, tiếng
nói của Nguyễn Trường Tộ rơi vào tai của những người không muốn nghe những
cái hay của xứ người mà họ cho là bọn "man di". Các sử gia Việt Nam ít
ra cũng đều nhận ra điều này: Theo "Vietnam : History, Documents, and Opinions
on a Major World Crisis" của M. E. Gettleman : "The emperor Minh Mang created
a strongly centralized regime. He was well educated and particularly devoted
to Chinese literature and law and Confucian traditions. This attachment
to Confucian ethics spurred him to oppose the spread of Christianity, a
religion which preached against the Confucian concept of an absolute and
divine monarchy. An imperial edict issued in 1833 declared the profession
of Christianity a crime punishable by death."
Tuy nhiên, một sử gia khác, Lê Thành Khôi, lại
đi viết trong "Le Việt-Nam" : "Các vua Việt Nam cấm đạo không phải vì cuồng
tín, nhưng vì các ông muốn bảo tồn nền thống nhất quốc gia về tinh thần
và chính trị. Việc người CG không thờ cúng tổ tiên làm tổn thương đến nền
thống nhất tinh thần ấy. Chứng cớ là vào năm 1742, Giáo hoàng Bênêdictô
14 ra sắc dụ "Ex quo Singulari" lên án việc thờ cúng tổ tiên mãi đến năm
1939, Giáo hoàng Pio 12 mới ra huấn dụ "Plane Compertum" (sắc dụ Summi
Pontificatus) ban phép việc thờ cúng. "Chẳng những về mặt tinh thần mà
về mặt chính trị : sự thống nhất quốc gia bị hăm dọa, vì các thừa sai lẽ
ra phải ở trong phạm vi thiêng liêng của mình lại nhúng tay vào chính trị.
Các thừa sai đã khuyến khích các giáo hữu tân tòng đứng lên chống chính
quyền để lập lên một chính phủ phò công giáo. Các thừa sai đã mở đường
cho người Pháp đến chiếm đất nước chúng ta. "Vì vậy các linh mục công giáo
phải bị xử không phải vì giảng đạo nhưng vì họ là những gián điệp, những
người xúi dân nổi lên chống chính quyền." Nguời CG không thờ cúng tổ tiên
không có nghĩa là họ không thảo kính, mến yêu hay nhớ ơn ông bà, cha mẹ.
Ðiều 4 trong mười điều răng dạy phải thảo kính cha mẹ Ðạo công giáo cấm
thờ cúng tổ tiên như là các vị thần vì đạo này là một tôn giáo độc thần,
không thờ một thực tại nào khác ngoài Thiên Chúa.
Vào năm 1742, Giáo hoàng Bênêdictô 14 ra sắc dụ
"Ex quo Singulari" để nhắc lại sắc dụ của Giáo hoàng Clément 11 ra năm
1715, cấm giáo hữu dự vào những lễ nghi thờ Khổng Tử. Sau này chính phủ
Trung Hoa công khai giải thích cho Vatican biết là những lễ nghi trên không
có tính cách tôn giáo, mà nó chỉ là biểu lộ lòng sùng kính chính đáng với
những bực tài đức trong nước, cũng như tỏ lòng hiếu thảo với người quá
cố(trong "l'Eglise et les Rites Chinois", 1940). Trước lời xác nhận này,
Giáo hoàng Pio 12 ra sắc dụ "Summi ontificus" cho phép người CG tham dự
vào các lễ nghi nói trên.
Người ta chắc không quên rằng sau khi nhà Trần
vừa dứt thì Hồ Quí Ly đã đàn áp Phật giáo. Các thời Tây Sơn(4) , Nguyễn
đã thắt chặc sự kiểm soát Phật giáo, là một tôn giáo trong Tam Giáo Ðồng
Nguyên (Khổng-Lão-Phật), đồng sinh cộng tử với đạo Nho và Lão hơn một ngàn
năm; vài sử gia Phật giáo rất ghét các vị vua này. Cả Phật giáo mà họ cũng
đối xử như thế, huống chi là "tà đạo" Công giáo. Sự tàn bạo, quên ơn, nhỏ
nhen và tráo trở của các vua nhà Nguyễn là nguyên nhân cho bao cuộc nổi
dậy trong nước. Những người theo phiến loạn đa số là "lương", dĩ nhiên
có một số nhỏ hơn cũng là Công giáo, nhưng họ vẫn là người Việt Nam như
các ngườI "lương" khác không thích nhà Nguyễn. (4)
Theo "Lịch sử nội chiến ở VN" của Tạ Chí Ðại Trường,
anh em Tây Sơn là dòng dõi Hồ Quý Ly. Ông bà của họ bị quân Nguyễn bắt
vào Nam nhân lúc Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật đem quân ra lấy 7 huyện
phía Nam sông Cả, thời Trịnh Ðức nhà Lê [1653-1657, nhưng trận chiến kéo
dài từ 1655-1661]. Một nhân vật chính trong họ bị bắt có thể là Hồ Phi
Phúc.
Họ được đưa về làng Tây Sơn thuộc huyện Phù Ly,
phủ Qui Nhơn. Ðến đơì cha của Nhạc, mới dời xuống ấp Kiên Thành sinh ra
3 anh em, lấy mẫu tính để gọi tên là Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Lữ và
Nguyễn Văn Huệ Cũng nên biết là Tây Sơn là một địa danh chỉ cả vùng núi
phía Tây đồng bằng của phủ Qui Nhơn xưa. Danh từ hàm ý nghĩa phong thủy
hơn là địa lý. Còn địa điểm Tây Sơn, nơi phát xuất của triều đại họ Nguyễn
mớI này là địa phận 2 làng Cửu An, Anh Khê ngày nay (1973), trước 1945
thuộc Kontum, sau 1955 được sáp nhập vào tỉnh Bình Ðịnh trong một quận
mới lập : quận An Túc. Tên phủ Qui Nhơn cũng trải qua nhiều thay đổi :
ban đầu là phủ Hoài Nhơn (1470), năm 1602 lần đầu có tên Qui Nhơn, 1651
tên phủ Qui Ninh, 1742 trở về tên cũ, 1831 lại gọi phủ Hoài Nhơn, 1832
thành tỉnh Bình Phú. Với người ngoại quốc buôn bán thì Qui Nhơn là vùng
Thị Nõi mà họ gọi là Quinion, Chincton, Choya [Chợ Giã, tức là thành phố
Qui Nhơn bây giờ. ở Các thừa sai đủ mọi sắc tộc như Pháp, Ðức, Ý, Nhật,
Tây-Ban- Nha, Ba Lan đến nước ta giảng đạo cả trăm năm trước triều Nguyễn
và không đá động về chính trị; tuy nhiên việc cấm đạo cũng vẫn xảy ra chỉ
vì ý tưởng bài ngoại mà ra.
Trong vụ Lê Văn Khôi, Khôi kêu gọi CG nổi lên
chống MM, nhưng theo "La Cochinchine Religieuse" của Louvet, giám mục Taberd
đã viết :"Chúng tôi không bao giờ rao giảng việc dấy loạn nhưng rao giảng
sự tùng phục nhà vua. Chúng tôi thà phải chọc tiết còn hơn nổi loạn." Trong
"Monseigneur Retord et le Tonkin Catholique" của Launay, vào thờI Tự Ðức
có Hồng Bảo muốn nổi lên ở Huế để hạ bệ Tự Ðức. Bảo muốn CG giúp bằng cách
đến hỏi ý kiến Giám mục Pellerin. Pellerin trả lời rằng người CG lúc nào
cũng muốn trung thành với chánh quyền. Bảo sẽ biết lòng trung thành này
nếu Bảo lên làm vua. Tuy nhiên Tự Ðức vẫn để tâm nghi ngờ. Theo Olichon
trong "Le Baron de Phát Diệm", ở Bắc Việt, vào 1860, Lê Phụng chiếm hết
vùng đồng bằng Bắc Việt rồi đem vây Lạng Sơn. Trấn Thủ Lạng Sơn tất phải
bỏ thành nếu dân CG ở đây chống lại chính quyền.
Các vua chúa nước ta có đầu óc kỳ thị tôn giáo,
hay nói một cách khác là cuồng tín hay không ? Các nhà viết sử khác thường
hay né tránh việc này, nhất là đối với "Thánh Tổ Hoàng Ðế". Tuy nhiên họ
không thể không nhắc tên "Néron của Việt-Nam" (Việt Sử Toàn Thư) mà các
vị thừa sai đã đặt cho MM. Trong các sắc dụ của Minh Mạng vào các năm 1833
và 1838, ông bày trò bắt người CG phải chà đạp hay bước ngang thánh giá,
đốt nhang thờ Bụt (Buđha); khi họ không chịu bỏ đạo thì MM bắt khắc hai
chữ "Tả Ðạo"
hoặc "Học Hoa Lan Ðạo" vào má của họ (Việt Nam
Sử Lược của Trần Trọng Kim). Theo lời mẹ, một người sùng đạo Phật, Trịnh
Cương hạ dụ cấm đạo vào các năm 1712 và 1721, bắt các thừa sai cho ở tù
rục xương hay trảm quyết.(Chú
thích:Hai hình trên được đăng trong "Lịch Sử
Giáo Hội Công Giáo" của Linh mục Bùi Ðức Sinh O.P do nhà xuất Bản Chân
Lý - Ấn hành lần thứ nhất tại Saigon 1972- Trang 333. Hình sau đã được
phóng lớn để thấy rõ 2 chữ Nho "Tả Ðạo" thích( tattoo) bên má trái - chú
thích của Ngô Ngọc Nguyện)
3. Cấm đạo vì lý do gián điệp
? Theo Việt Nam Sử Lược., Trần
Trọng Kim là người bênh cho Minh Mạng nhất, thế nhưng không thấy ông khẳng
định là trong thờI gian này các vị thừa sai cũng như linh mục và công giáo
thật sự là những tay gián điệp và việc cấm đạo là do việc này mà ra. Nếu
có, chỉ là sự nghi ngờ của triều đình. Như ta đã thấy là trong khoảng thời
gian từ 1802 tới 1841, nhất là trong khoảng thời gian từ 1829 đến lúc Minh
Mạng chết đi (1841), không một người ngoại quốc nào muốn tới VN để buôn
bán nữa, chỉ có mấy tên "gián điệp" Tây Dương Ðạo Trưởng" lẻn vào mà thôi.
Vào 1825, khi chiếc tàu chiến Thétis của Bougainville
nhổ neo đi thì một giáo sĩ tên Rogerot ở lại để đi giảng đạo. Dựa vào đó,
MM mới hạ lệnh cấm đạo, truyền cho các quan phải khám xét tàu bè của người
ngoại quốc ra vào biển (đã nói ở trên). MM sai đem các thừa sai gôm lại
ở Huế để dịch sách, mục đích không phải là cho các ngài là "gián điệp",
nhưng là để khỏi đi giảng đạo.
Quan lại cũng ghét đạo nữa, cho nên việc bắt đạo
càng dữ dội. Ðiều này không lấy gì làm lạ bởi vì Nho giáo là căn bản duy
trì uy quyền của họ. Nay có Công giáo thì cảm thấy là uy quyền "phụ mẫu
chi dân" sẽ bị sức mẽ. Tuy nhiên dù có cấm hay có giết đi nữa, người ta
vẫn thấy có người tin theo đạo. Cộng thêm vào đó, triều đình thì thối nát,
giặc giã nổi lên từ 1834 cho tới 1838. Một mặt cấm đạo, một mặt MM huấn
thị dân phải bảo vệ đạo của mình (Tam Giáo Ðồng Nguyên). Trần Trọng Kim
trách tại sao MM phải làm dân mình khổ như vậy ? "Thánh Tổ Hoàng Ðế" thì
phải là bậc trí dũng, sao lại có thể làm chuyện tàn bạo như thế.
Các giáo sĩ liều sống chết trốn đây đó để truyền
đạo, có người đào hầm để dạy đạo. Như vậy, vớI ý chí như thế thì hình phạt
chỉ là vô dụng. Vậy cấm đạo đây không phải vì "gián điệp" nhưng là vì bảo
vệ Nho giáo một cách cuồng tín. Như Gia Long, khi gặp cơn bỉ cực, thì ông
có nhờ "gián điệp" giúp đỡ; khi ngai vàng đã vững thì lạt lẽo. Con cháu
của ông đã quên đi công lao của một tên "gián điệp" chạy Ðông chạy Tây
kiếm tiền và người giúp dựng giang sơn cho họ. Gián điệp hay bán nước,
làm tay sai cho địch chẳng qua là một bình phong che tính chất "ăn cháo
đá bát", tội ác giết người kinh khủng của các vị vua này mà thôi. Kết quả
của sự bài ngoại, giết người Việt theo đạo Gia-Tô chính là cái cớ dễ dàng
cho sự xâm lược của thực dân.
4. Tình hình công giáo trong
khoảng 1830-1833 : Trong thập
niên 1829-1839, thời gian mà Pháp chán nản không muốn liên hệ gì với nước
ta nữa, thì Minh Mạng càng say máu trong việc cấm đạo. MM muốn bắt đạo
nhưng còn sợ mang tiếng nên ông bày trò cho các quan ở các tỉnh gởi kiến
nghị về kinh. Vì thế, "trước mặt dân", MM "buộc lòng" phải làm mà thôi.
Jaccard là một vị linh mục ở Cửa Hàng bị MM bắt về dịch sách vở. Khi biết
MM sắp mừng tứ tuần, tỏ thiện chí, Jaccard đã cùng giáo dân làm lễ long
trọng cầu an cho MM trong 8 ngày liền, nhưng đó là những ngày bình an cuối
cùng cho bổn đạo của ông. Làng Cổ Lão (Cửa Hàng ?) là một làng không CG
luôn tìm dịp để cướp đất ruộng của làng Dương Sơn bằng cách gây chuyện;
họ tố cáo lên cai tổng là Jaccard dã dẫn CG tớI cướp các nhà trong làng
của họ. Viên cai tổng, mặc dù không có thiện chí với Jaccard, không thể
xử ông một cách lố bịch, không chứng cớ. Tức giận, người làng Cổ Lão đem
chuyện lên triều đình bằng cách đổi lời tố khi trước sang tội a tòng theo
"tà đạo". 73 người CG bị giam và bị tra tấn; lý trưởng bị xử tử; Jaccard
cũng thế nhưng MM bắt Jaccard phải tham gia vào quân đội Hoàng Gia Việt
Nam. Sau này MM đổI xử chém sang thắt cổ Jaccard. Jaccard chết vào 21/1/1838
tại Quảng Trị. Theo Louvet trong "La Cochinchine Religieuse", khinh người
Tây phương là bọn mọi rợ, cho CG là bọn sài lang bướng bỉnh không bỏ đạo,
trong một sắc dụ, MM truyền : "Ta truyền lệnh cho tất cả những người trong
nước phải tuân lệnh ta, chỉ có bọn sài lang Công giáo không chịu theọ Ta
truyền lê .nh thẳng tay đánh đập, tra tấn, xé ra từng mảnh những tên ngoan
cố, không chịu chà đạp thập giá."
5. Sắc dụ cấm đạo toàn quốc
(6/1/1833) : Vì quá ghét đạo
công giáo, MM đã đặt điều giá họa cho đạo này mà rất có thể là ông biết
không phải vậỵ Theo "Vietnam : History, Documents, and Opinions on a Major
World Crisis" của M. E. Gettleman, bản dịch sang tiếng Anh về sắc dụ này
lấy từ "La Geste Francaise en Indochine", vol/ 2, 1955, của Taboulet như
sau :
a.- Edict of the Emperor Minh Mang : Hostility
to Christianity (1833) : "I, Minh Mang,
the king, speak thus. For many years, men from the Occident have been preaching
the religion of Gia-To and deceiving the public, teaching them that there
is a mansion of supreme bliss and a dungeon of dreadful misery. They have
no respect for the God Phat (Buđha) and no reverence for ancestors. That
is great blasphemy indeed. Moreover, they build houses of worship where
they receive a large number of people, without discriminating between the
sexes, in order to seduce the women and young girls; they also extract
the pupils from the eyes of sick people. Can anything more contrary to
reason and custom be imagined ? "Last year, we punished two villages steeped
in this depraved doctrine. In so doing we intended to make our will known,
so that people would shun this crime and come to their senses. "Now then,
this is our decision : although many people have already taken the wrong
path through ignorance, it doesn't take much intelligence to perceive what
is proper and what is not; they can still be taught and corrected easily.
Initially they must be given instruction and warnings, and then, if they
remain intractable, they would get punishment and pain. "Thus we order
all followers of this religion, from the mandarin to the least of the people,
to abandon it sincerely, if they acknowedge and fear our power. We wish
the mandarins to check carefully to see if the Christians in the territory
are prepared to obey our orders, and to force them, in their presence,
to trample the cross underfoot. After this they are to pardon them for
the time being. As for the houses of worship and the houses of the priests,
they must see that these are completely razed and, henceforth, if any of
our subject is known to be guilty of these abominable customs, he will
be punished with the last degree of severity, so that this depraved religion
may be extirpated. "This is our will. Execute it. 12th day of the eleventh
moon, 13th year of our reign. [the royal seal]. b. Secret annex to the
edict : "The religion of Jesus deserves all our hatred, but our foolish
and stupid people throughout the kingdom embrace it en masse and without
examination. We must not allow this abuse to spread. Therefore we have
deigned to post a paternal edict, to teach them how they must correct themselves.
"The people who follow this doctrine blindly are nonetheless our people;
they cannot be turned away from error in a moment. If the law were followed
strictly, it would require countless executions. This measure would cost
our people dearly, and many who would be willing to mend their ways would
be caught up in the proscription of the guilt. Moreover, this matter should
be handled with discretion, following the (Confucian) maxim, which states
:"If you want to destroy a bad habit, do so with order and patience," and
continued :"If you wish to root out evil breed, take the hatchet and cut
the root." "We order all the Tổng Ðốc (administrative head of a province)
and all others who govern : 1) Carefully to attend to the instruction of
their inferiors, mandarins, soldiers or populace, so that they may mend
their ways and abandon this religion. 2) To obtain accurate information
about the churches and homes of missionaries, and to destroy them without
delay. 3) To arrest the missionaries, taking care, in doing so, to use
guile rather than violence; if the missionaries are French, they would
be sent promptly to the capital, under the pretext of being employed by
us to translate letters. If they are indigenous, you are to detain them
in the headquarters of the province, so that they may not be in communication
with the people and thus maintain them in error. Take care lest your inferiors
profit from this opportunity by arresting Christians indiscriminately and
imprudently, which would cause trouble everywhere. For this you would be
held guilty... "You, provincial prefects, act with caution and prudence,
do not stir up trouble; thus you will make yourselves worthy of our favor.
We forbid this edict to be published, for fear that its publication might
cause trouble. As soon as it reaches you, you alone are to acknowledge
it. Obey."
6. Vài cái chết vì tín ngưỡng
: Sau sắc dụ trên, các vị thừa
sai phải chạy trốn. Một trong những người kém may mắn là Gagelin. Ông đi
từ Saigon đến Qui Nhơn để tìm chỗ núp nhưng không được, ông đành ra tự
thú ở Bình Ðịnh. Trấn Thủ Bình Ðịnh cho 2 đầy tớ đi theo áp tải Gagelin
lên kinh thành, nhưng họ trốn mất lúc ngang Cửa Hàng, trong khi Gagelin
còn đang mang gông. Rốt cuộc Gagelin được dẫn tới Huế và bị giam ở Trấn
Phủ. Ðược tin mình phải bị xử tử, Gagelin viết thư nhờ Jaccard, đang ở
Cung Quán, để báo cho cha mẹ ông ở Pháp hay. Gagelin được dẫn ra chợ Ðông
Ba. MM muốn cho dân kinh thành quen với cảnh xử man rợ cho nên đi trước
Gagelin có lính rao lớn : "Tây Dương Ðạo Trưởng Hoài Hóa có tội rao giảng
tà đạo Gia-Tô ở nhiều tỉnh trong nước : vì thế nó bị án thắt cổ." Tới Bãi
Dâu, Gagelin ngồi trên một chiếc chiếu do một bổn đạo nào đó đã trải cho
ông.
Lý hình cột tay Gagelin vào một cọc phía sau
lưng, quàng giây vào cổ. Lệnh ban ra, 6 lính mỗI bên kéo thật mạnh. Ðó
là vào 8 giờ sáng ngày 17/10/1833. Tống Viết Bường, một đội trưởng (theo
quan chế VN tương đương với Ðại úy; xem Roux : "Vestiges Religieux et Profanes
du Vieux Hue"), bị giam ở Trấn Phủ từ 12/1832 và bị tra tấn trong 18 tháng
liền (Louvet : La Cochinchine Religieuse). Con ông và 6 binh sĩ đã bị xử
từ trước. Bường biết mình sẽ bị trảm quyết. Những người lính dưới quyền
của ông trước kia là những người phải dẫn ông đi xử tại họ Thợ-Ðúc, nơi
có ngôi nhà của người con gái của ông. Lúc tới trước căn nhà đó, quan có
phận sự xử Bường có nói :
- Bường, ông không phải tướng cướp, ông không
có tội gì ngoài tội theo CG. Ông hãy bỏ đạo rồi Hoàng thượng sẽ tha cho
ông, và hoàn cấp bậc lại cho.
- Không, tôi đang đi đến đích của đời tôi.
Tôi không muốn lùi lại.
Nói xong, Bường xin vài phút để cầu nguyện...
Sau khi đọc kinh xong, lý hình đứng sau lưng ông, tuốt gươm chém vào cổ
một lát thật mạnh. (Roux : "Vestiges Religieux et Profanes du Vieux Hue").
Ðầu của Bường bị bêu 3 ngày trong một ngôi nhà thờ đổ nát của họ Thợ-Ðúc.
Xác được an táng tại Phú Cam. (Hình
sau được in trong "Lịch sử Giáo hội Công giáo" của Linh mục Bùi Ðức Sinh
O.P trang 345)
7. Giám mục Taberd : Sau
sắc dụ bắt đạo trên, Taberd và một số thừa sai chạy sang Thái Lan. Nơi
đây, với mục đích chính trị, Thái Lan tiếp đãi nồng hậu Taberd với ý đồ
là ông sẽ giúp họ kêu gọi ngườI CG chống lại MM. Taberd từ chối. Quốc vương
Thái Lan trở mặt : 3 linh mục và 15 thầy tu VN chạy theo Taberd bị bắt
làm tù binh, nhưng sau đó họ được cứu bởi thừa sai Cuénot và đưa sang Penang,
Mã Lai. Trong lúc đó, Thái Lan đem quân đánh VN "theo lời cầu cứu" của
Lê Văn Khôi. Nhưng Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đại thắng Thái Lan
trên toàn cõi mặt trận Cao Miên và Lào. Cuộc chiến Việt-Thái đã biến Taberd
thành cái đích gán tộI của cả Thái Lan và Việt Nam. Thái Lan không bằng
lòng về Taberd vì ông không nghe lời họ; người Việt thì tố Taberd đã giựt
giây chính phủ Thái để chính phủ này khai chiến với VN. Không ai nói về
vai chính Lê Văn Khôi trong vụ này. Taberd sống không nổi ở Thái Lan nên
trốn sang Singapore vào năm 1834. Trong lúc đó thì người CG bị MM tàn sát
từ Nam chí Bắc. Sau khi Marchand bị xử, ở Nam và Trung chỉ còn 2 vị thừa
sai và 10 linh mục VN. Do đó Taberd đã phái Cuénot về địa phận Lái Thiêu
gấp. Taberd làm như thế vì nghĩ rằng tốt hơn là không về VN để gây họa
cho người Việt Công giáo. Vào những năm cuối cùng, gọi là để cống hiến
phần nào cho người Việt, Taberd đã làm cuốn tự điển Việt - Latin và Latin
- Việt, công phu và có giá trị. Taberd chết tại Calcutta năm 1840.
Vào năm 1835, thấy tình hình rối beng trong nước,
MM ra sắc dụ ngưng lại việc chém giết trong 2 năm. Trở thành Giám mục,
Cuénot trở lại VN đem theo 2 vị linh mục VN và trốn ở Gò Thịnh, Bình Ðịnh.
Ông liên lạc các địa phận và giúp họ giữ vững lòng tin. Năm 1835, Cuénot
đã phong chức cho 10 thầy giảng. Trong thời gian này, Cuénot cả gan lập
lại 2 chủng viện và cử 2 vị thừa sai mới lẻn vào VN làm giám đốc một chủng
viện Huế và một ở Nam Việt. Cuénot đã gôm lại 250 bà phước vì trong thời
kỳ bắt đạo họ đã được về với gia đình.
8. Sắc dụ cấm đạo 1836 : Theo
Nam Xuân Thọ trong "Phan Thanh Giản", trong sắc dụ này, MM cho biết là
Marchand đã công nhận hết tội lỗi cũng như về những hoạt động quái ác trong
đạo Gia-Tô :"Các thừa sai dùng một thứ bánh để quyến rũ dân chúng và bắt
họ phải giữ đạo đến cùng. Các người công giáo móc mắt những người gần chết
rồi đem trộn với hương để làm thuốc... "Trong lúc làm phép hôn phối có
xảy ra những điều ám muội.. "Cấm mở cửa biển cho tàu bè bọn mọi rợ vào,
chỉ trừ ở Cửa Hàn. Hễ giao sĩ Âu nào bắt được ở trên tàu khách vào trong
nước cũng phải xử tử. Hễ giáo sĩ Âu nào bắt được trong nước cũng phải xử
tử. Những ai oa trữ các ông ấy trong nhà cũng phải xử tử. Nội các quan
hễ có ai tố giác ra một người đạo sĩ nào ở trong hạt mình cũng phải xử
tử, vì đã không tìm hết cách để bắt lấy" Các quan sợ liên lụy đã làm hết
sức để hủy bỏ những cuộc truy nã người công giáo, nhiều lúc họ còn báo
cho người công giáo trốn đi trước khi đến xét nhà.
9. Sắc dụ cấm đạo 1838 :
Khi thấy dù tra tấn cách mấy đi nữa mà đại đa số công giáo không chịu bỏ
đạo, MM tuyên bố trong sắc dụ này là sở dĩ họ tha thiết với đạo là vì họ
kém văn hóa và chưa biết cái tốt cái đẹp của đạo khác. Ðể soi sáng dân,
MM soạn tập "Thập Ðiều". Sắc dụ này còn dạy xây ở mỗi làng nhiều đình chùa
để thờ ông bà tổ tiên và đặc cách các cụ nhà Nho giải thích 10 điều răng
của MM cho ngu dân. Dụ này còn nói : "Phải giữ đạo Gia-Tô để được lên Thiên
Ðàng sau lúc chết. Thì xem Tây Dương Ðạo Trưởng Marchand và Cornay (một
thừa
sai người Pháp bị chặt thành từng khúc vào 20/ 9/1837), ông Trùm Hiển (tên
của giám mục Hemares bị trảm quyết ngày 24/7/1838) và ông Trùm Hai (tên
của thừa sai Fernandez, bị xử cùng ngày) có lên thiên đàng sau lúc mấy
ổng chết không ? ..."
10. Sắc dụ cấm đạo cuối năm
1838 : Vì muốn bắt đạo dữ dội
và có hiệu quả hơn, MM ra chỉ quyết liệt phải thiết lập chùa miếu, tất
cả mọi ngườI phải chung tay xây cất nhà thờ tự, phải tới chùa thấp hương,
vái lạy. Theo Trịnh Việt Hiền trong "Máu Tử Ðạo Trên Ðất Việt Nam" thì
MM ra chỉ dụ này nhầm chấn hưng tinh thần Phật giáo, phổ cập óc thờ Bụt
Thần trong dân chúng để họ khỏi theo tà đạo. Một số công giáo đã bị giết
vì không chịu tham gia.
11. Phái đoàn Phan Thanh Giản
sang Pháp : Trong lúc MM đang
say máu bao nhiêu, thì dân lại khổ bấy nhiêu; còn Trung Hoa thì bị Anh
và Pháp tấn công dữ dội và phải cầu hòa. Cuộc đọ sức này phát xuất từ những
lý do bỉ ổi. Nước Anh đã xâm chiếm nhiều vùng đất của Ấn Ðộ để trồng thuốc
phiện nhưng không có thị trường để tiêu thụ và đó là vấn đề nguy hiểm trên
thương trường.
Lái buôn Anh muốn sang Trung Hoa để bán thuốc
phiện. Trung Hoa phản đốI kịch liệt và vào năm 1838, Trung Hoa ra lệnh
đổ xuống biển 20,000 thùng thuốc phiện của lái buôn Anh (Olichon trong
"Les Missions"). Ðồng thời các nhà hàng của Anh cũng bị đốt. Anh dùng vũ
lực đánh Trung Hoa.
Năm 1842, chiếu theo luật mạnh được yếu thua,
Hồng Kông thuộc về Anh. Biến cố đó đã cho MM thấy là một mớ chữ Nho cũng
như vũ khí của Tàu không thể chống lại đại bác khạc lửa. BốI rối, MM gởi
một phái đoàn sang Pháp để dò la thái độ của Pháp đối với VN (Launay trong
"Histoire Générale de Mission Étrangères"), chớ không phải điều đình với
Pháp về việc giảng đạo như Trần Trọng Kim đã viết trong Việt Nam Sử Lược
(trang 228), hoặc vì MM thấy mọi việc cấm đoán, giết chóc không kết quả
mới cử phái đoàn sang Pháp như Phạm Văn Sơn viết trong Việt Sử Toàn Thư,
hay muốn giao thiệp với người Tây phương cho dịu bớt tình hình đang căng
thẳng như Phan Xuân Thọ viết trong "Phan Thanh Giản".
Khi tới nơi, phái đoàn tuyên bố là các thừa sai
ở VN được hậu đãi và dân chúng được hoàn toàn tự do giữ đạo CG. Giáo hoàng
Grégorie yêu cầu vua Pháp Louis Philippe dùng ảnh hưởng của ông để vận
động với triều đình VN chấm dứt việc bắt đạo. Báo chí Pháp phản đối việc
tiếp phái đoàn VN. Louis Philippe không tiếp Phan Thanh Giản vì những lý
do :
- Năm 1821, lãnh sự Pháp Jean Baptiste Chaigneau
tới VN mang theo lá thơ của Louis 17 yêu cầu được buôn bán. MM từ chối.
- Ngày 28/2/1822, Chaigneau xin MM cho thuyền
trưởng tàu Cléopâtre được yết kiến. MM từ chối. - Năm 1825, Bougainville
đem tàu tới Cửa Hàng đem bức thơ của Louis 18 xin yết kiến. MM từ chối
sự giao thiệp.
- Năm 1826, Eugène Chaigneau, nhân viên tòa lãnh
sự Pháp, không được vào VN.
- Năm 1830, Eugène Chaigneau đến một lần nữa
nhưng MM không cho tiếp kiến.
Nhiều sử gia VN đã né tránh không đề cập tới lý
do trả đủa này của Louis Philippe. Không được tiếp kiến, Phan Thanh Giản
trở về và định báo cáo cho MM nhưng ông đã chết (1841) vì té ngựa (theo
Schreiner trong "Abrégé de l'Histoire d'Annam"; các tác giả như Trần Trọng
Kim, Nguyễn Văn Quế và Phạm Văn Sơn không nói đến việc té ngựa này). Các
pho sử như "Gia Ðịnh Thống Chí", "Liệt Thánh Thực Lục Tiền Biên" hay "Khâm
Ðịnh Tiễn Bình Lưỡng Lỳ Phỉ Khấu Phương Lược" đều được viết theo lệnh của
Minh Mạng. Ðể hiểu khách quan về MM, người ta nên tham khảo cả sách ta
và Tây.
12. Nghĩ sao về Minh Mạng
? Theo Việt Sử Toàn Thư của
Phạm Văn Sơn, đứng trên vai trò chủ quyền của quốc gia, việc thỉnh thoảng
tàu Tây Phương đổ một số giáo sĩ vào VN đã làm triều đình này cho rằng
ngườI ngoại quốc tỏ thái độ trịch thượng khi biết rằng VN không thích các
giáo sĩ vào nước họ. Thật vậy, triều đình VN không muốn đạo Công giáo đặt
chân trên đất nước này, nhưng mọi phương sách cấm đạo đều vô dụng. Kết
quả, MM đi đến chỗ quyết liệt để bảo vệ đạo cũng như ngai vàng của ông.
Ðạo dụ cuối cùng càng dữ dội hơn trước; việc bắt đạo, xử giảo, quân và
quan lục lọi gần như loạn. Nhưng sắt và máu của nhà vua chỉ làm cho giáo
dân khắng khít với đạo của họ hơn. Nhiều cuộc nổi loạn đã xảy ra, nhưng
vài nhà viết sử ta đã gài các vụ nổi loạn trên dính liền với sự bắt đạọ
Thật ra, những cuộc nổi dậy phát xuất từ nhiều lý do khác hơn về tôn giáo.
Không có một bằng chứng nào cho thấy những người Công giáo đã phản ứng
lại chính sách tàn bạo này bằng những cuộc nổi dậy, cho dù quả thật họ
bị dồn vào bước đường cùng. Trước áp lực của MM, các người Việt này chỉ
biết bảo tồn mạng sống bằng cách chạy vào rừng, hay trốn ra biển, núp dưới
hầm sâu, nếu không may thì phải đưa cổ cho quan của MM cứa mà thôi.
Ngồi trên ngai vàng suốt 21 năm, MM được khen
là biết chăm lo việc nước. Về nội trị như chính trị, quan chế, học hành,
khoa cử, phong tục, thuế má, võ bị đi vào nề nếp. Về an ninh quốc gia,
MM phải nhờ các tướng tài giúp đỡ. Tuy nhiên nói chung, MM chỉ là vị vua
tầm thường, không có sáng kiến cần cho những cải tổ sâu rộng. Dưới triều
của ông không có những nhân tài để giúp cho việc kinh bang tế thế làm cho
dân nhờ. Loạn ở Bắc và ở Nam là do lỗi của chính ông cũng như không có
người tài làm cố vấn; đa số các quan lại trong triều là tham nhũng. Việc
bạc đãi người bản xứ Chân Lạp khi họ ở dưới sự bảo hộ của VN đã làm cho
người Miên ngả theo Thái Lan đánh bật VN ra Khỏi Trấn Tây Thành [vào 1835,
Trương Minh Giảng chiếm Lục Chân Lạp, một phần của Cao Miên, rồi cải tên
của Chân Lạp thành Trấn Tây Thành. Giữ không nổi, nghỉ mình giữ việc kinh
lý Chân Lạp không xong mà phải rút về, Trương Minh Giảng buồn bả mà chết].
Rồi vụ Lê Văn Duyệt, Lê Văn Khôi, con Hoàng Tử
Cảnh, rồi chị dâu, đã biến ông thành trò chê cười cho hậu thế. Về việc
bắt đạo, nhiều sử gia đã đứng bên MM cho rằng ông có những lý do của ông.
Chẳng hạn, đạo Công giáo còn quá mới mẻ đối với dân ta, nhiều nghi lễ không
hợp với tục lệ cổ truyền và gần như làm đảo lộn một phần nào cuộc sống
tinh thần của dân ta. Mọi người đều cho việc sùng kính của mình là hay
là nhất; do đó, họ phải bảo vệ nó bằng mọi cách. Mặt khác, vào lúc này
tình hình Á Châu đang rối loạn do các cuộc xâm lăng của các đế quốc Tây
phương, do dó các vua ở vùng này ai mà không có tư tưởng bài ngoại, tuy
nhiên việc bài ngoại của một quốc gia yếu kém đã đem đến chậm tiến mà còn
làm dân của mình khổ.
MM giết đạo là điều có thể hiểu được. Tuy nhiên,
người ta vẫn có nhiều thắc mắc. Theo nguyên tắc Nho giáo, tôi phải theo
vua, con phải theo cha, ai trái với đạo này thì sẽ bị giết. Nhưng nếu vua
bậy bạ hay cha là tay giết người cướp của thì con cái nên tuân theo Nho
giáo để bắt chước họ hay không ? Mặt khác, đạo Nho không có độc đoán như
thế. Khổng Tử đã nói :"Sư phụ mẫu cơ gián, kiến chi bằng tòng, hưu kinh
bất vi, lao nhi bất oán". Có nghĩa là khi cha mẹ có làm điều gì lầm lỗi,
con phải tìm cách êm đềm dịu dàng mà can ngăn, thấy cha mẹ không nghe thì
lại kính mà không trái lễ, dầu có phải điều đau đớn khó nhọc cũng không
oán giận. Gia Long là cha Minh Mạng, không tàn sát công giáo.
Minh Mạng đã không theo gương cha, không học tính
tốt của cha, không nghe lờI di huấn của cha. Vào 2/1825, MM ra sắc dụ cấm
đạo, nhưng Thống tướng Lê Văn Duyệt, Khâm sai đại thần cai trị 6 tỉnh miền
Nam, đã phản đối kịch liệt (Louvet : La Cochinchine Religieuse). Ông về
Huế tâu cùng Minh Mạng :
- Tâu Hoàng Thượng, người công giáo đã phạm lỗi
gì để ta bắt bớ họ ? Sao chúng ta lại giam cầm Ðạo Trưởng Âu Châu... Hoàng
Thượng không nhớ các thừa sai đã cho chúng ta gạo (Bá-Ða- Lộc đã chia gạo
cho Nguyễn Ánh và quân lính lúc Nguyễn Ánh chạy trốn lang thang ở vịnh
Thái Lan) ?... Hạ thần mất rồi, Hoàng Thượng muốn làm gì thì làm, nhưng
bao lâu hạ thần còn sống, Hoàng Thượng sẽ không làm điều ấy.
Nếu MM trong lúc giết người và cấm đạo mà tưởng
mình làm bổn phận của mình thì lời di chúc của Gia Long và cảnh cáo minh
bạch của Lê Văn Duyệt không làm ông mở mắt ? Hay ông chỉ là kẻ ngoan cố
đến độ tàn nhẫn ?
Theo Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn và theo
Maybon trong "Lectures sur l'Histoire Moderne et Contemporaine du Pays
d'Annam", MM còn bị tố là bạo chúa vì ông đã giết người Công giáo không
khác gì Néron của La Mã, thủ tiêu cháu của ông, lên án Lê Văn Duyệt vì
tính thù nhỏ nhen. MM đã làm những người ngoại quốc cố tình làm quen phải
chán nãn, người trong nước bất mãn cách hành động của ông nên giặc giã
nổi lên từ Nam chí Bắc, mục đích là xô ông xuống khỏi ngai vàng.
Trước khi bước sang thời vua Hiến Tổ, niên hiệu
Thiệu Tri, ta thử sơ bàn về chính sách đế quốc và thực dân Pháp tại Việt
Nam, và của người VN đối với Chiêm Thành và Chân Lạp. Sơ bàn về Thực dân
Pháp tại Việt Nam : lẽ tất yếu hay chuyện lạ ? Nói chung thì chính sách
thực dân đã tạo ra làn sóng thuộc địa trên thế giới và đó là điều bỉ ổi.
Một quốc gia là một nước có lãnh thổ riêng biệt,
được giới hạn và, trong thế giới hiện đại, được quốc tế công nhận. Mỗi
quốc gia chứa một dân tộc có cùng một lịch sử, một tập tục, có quyền lợi
và cùng chung một nghĩa vụ là bảo vệ và phụng sự nó; đặc biệt nhất là dân
tộc này có chung một ngôn ngữ với văn tự riêng và tiếng nói riêng. Chúng
ta có tiếng nói riêng, nhưng không có văn tự đặc thù cho tới đầu thế kỷ
thứ 20. Lý do ? Dân tộc ta có ít nhất 2 nguồn gốc; nguồn gốc được nói tới
nhiều nhất là theo các nhà khảo cổ Á- Âu, dựa vào truyền thuyết, họ cho
rằng dân tộc VN thuộc dòng dõi Bách Việt, có tên là Lạc Việt, thành lập
một quốc gia gọi là Xích Quỷ (bờ cỏi của Xích Quỷ phía Bắc giáp Ðộng Ðình
Hồ của Hồ Nam, phía Nam giáp Hồ Tôn tức Chiêm Thành, phía Tây giáp Ba Thục
tức Tứ Xuyên và phía Ðông giáp bể Nam Hải) mà 2 vị vua đầu tiên của quốc
gia này tên là Kinh Dương Vương và con là Lạc Long Quân, tức Sùng Lãm.
Lạc Long Quân phong cho người con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là
Hùng Vương. Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân là những vị vua thứ nhất
và thứ nhì của họ Hồng Bàng, một họ thành hình vào năm 2879 trước Tây Lịch,
thay phiên nhau cai trị Văn Lang qua 20 đời vua tới năm 258 trước TL thì
bị nhà Thục, một nước kế cận, lấy mất và đổi tên nước lại là Âu Lạc với
vị vua mớI xưng là An Dương Vương.
Dựa theo trống đồng Ðông Sơn, Ngọc Lũ và các di
vật khảo cổ từ thời Văn Lang mà người ta khám phá ra rằng ở tại Á châu
ngoài 2 nền văn minh Ấn độ và Trung hoa còn có một nền văn minh riêng biệt
khác, đó là văn minh Văn Lang. Nước Văn Lang là quê hương của Việt tộc,
còn gọi là Viêm Việt. Ðây là một lãnh thổ bao la nằm ở phía Nam của Ðộng
Ðình Hồ. Âu Cơ, vợ Lạc Long Quân, chính là nữ thần nước ở Ðộng Ðình Hồ,
quê hương cũ của ta.
Các công trình nghiên cứu mới đây đồng ý là núi
Ngũ Lĩnh và Ðộng Ðình Hồ vùng Hoa Nam hay Hồ Nam (Phiên Ngung, Quế Lâm,
Tượng Quận, Chiết Giang) thuộc phần đất của Quảng Ðông - Quảng Tây của
Trung Hoa ngày nay, là lãnh thổ của dân tộc Việt. Nhưng cội nguồn văn hóa
trên đã bị tộc Hán xâm chiếm. Về quê xưa Ðộng Ðình Hồ, ông bà ta có những
câu :
Gió Ðộng Ðình mẹ ru con ngủ,
Sông Tiền Ðường ấp ủ năm canh,
Lạnh lành lanh, lạnh lành lanh,
Võng đào mẹ ủ con Rồng cháu Tiên
Âu Cơ là Mẹ nước mà dân Việt ta thờ kính trong
đạo Mẫu (miền Bắc có trên 60 đền thờ mẹ Âu Cơ); đạo thờ mẹ này là một tín
ngưỡng độc đáo của dân tộc VN. Ðạo Mẫu có trước cả thời Hán thuộc; sau
này Âu Cơ đã trở thành nữ thần nguyên thủy của đạo Giáo Việt, tức Mẫu Thủy
Phủ, kiêng tên úy được gọi trại đi là Mẫu Thoải. Một bài hát chầu văn ca
tụng bà mẹ này như sau :
Trạnh giang biên dòng dòng lai láng
Nguyệt lầu lầu soi sáng Nam minh
Ngài con vua thủy Ðộng Ðình
Cổ tiên thần nữ giáng sinh đền rồng
Tài gồm đủ công dung ngôn hạnh
Nết ôn hòa ưa tính thiên nhiên.
Việt tộc sống quay quần bên nhau thành bộ lạc,
cùng cá tính, cùng phong tục tập quán, nói cùng một thứ tiếng ; theo định
luật thiên nhiên, con người có tiếng nói, tức tiếng mẹ đẻ, trước khi có
văn tự Vào năm 214 trước Tây lịch, Tần Thủy Hoàng thâu tóm tất cả lãnh
thổ, từ Hoa Bắc xuống Hoa Nam, trong đó có Lạc Việt, tạo thành một đế quốc
to lớn. Ðể thống nhất chính trị và đồng hoá văn minh, TTH ra lịnh bắt tất
cả các dân tộc phải dùng chữ Hán.
Do bị giống Hán tộc lấn áp, đánh đuổi nên ta di
cư dần dần xuống phương Nam bắt đầu từ thế kỷ thứ 3 trước TL. Sau khi nhà
Tần suy thì Triệu Ðà, quan của nhà Tần, đánh chiếm Âu Lạc dựng lên một
quốc gia riêng gọi là Nam- Việt. Thế rồi trong suốt khoảng thời gian dài
đăng đẳng 1,028 năm, ta đã bị Trung Hoa đô hộ, giai đoạn này còn được gọi
là thời kỳ Bắc thuộc, gồm Nhà Triệu của
Triệu Ðà (207 trước TL - 111 trư ớc TL : 97 năm),
Nhà Tây Hán (110 trước TL - 39 sau TL : 149 năm),
Nhà Ðông Hán (43-186 : 144 năm),
Ngũ Ðại gồm Ngô, Tấn, Tống, Tề và Lương (227-540
: 314 năm),
Nhà Tùy và Ðường (603-906 : 304 năm),
Nhà Minh (1407-1427 : 20 năm).
Do đó dân tộc ta chịu ảnh hưởng thật sâu đậm nền
văn hóa Hán tộc, tôn sùng 2 đạo Khổng Nho, lấy đạo Khổng phu tử làm giáo
lý và làm căn bản cho việc tổ chức guồng máy xã hội quốc gia, lấy chữ Hán
làm văn tự chính thức, lấy Tứ Thư (Ðại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh
Tử) và Ngũ Kinh (Thi, Thư, Dịch, Lễ, Ký, Xuân Thu) làm kim chỉ nam cho
nền văn học. Nhưng có một điều là dù bị Bắc thuộc cả ngàn năm như thế mà
dân ta vẫn giữ được tiếng mẹ đẻ, tức tiếng Việt. Do đó mà ta thoát khỏi
bị sự đồng hóa không giống như các dân tộc khác ở vùng Hoa Nam.
Nhận thấy lối phát âm của tiếng Việt lại phong
phú hơn tiếng Hán, tiền nhân của ta đã sáng chế ra một văn tự riêng biệt
để phù hợp với âm và nghĩa Việt. Ðó là chữ Nôm mà chính người Hán không
hiểu được. Dĩ nhiên vào lúc đó duy nhứt chỉ có Hán tự là thứ chữ tượng
hình duy nhất dùng trong phạm vi hành chánh của nhà cầm quyền Hán, nên
tổ tiên ta chỉ có cách duy nhất là phỏng theo chữ Hán. Hán tự có từ lâu
nên có qui luật rành rẽ, còn chữ Nôm, tùy ý nôm na, nên không có mẹo luật
nhất định, do đó có khi cùng một tiếng Việt mà có 2 cách viết. Danh từ
"Nôm" và danh từ "Nho" cùng xuất hiện đồng thời vào thời Tùy Ðường đô hộ
(603-906) để phân biệt chữ Nôm và chữ Nho (tức là chữ Hán nguyên hình).
Chữ Nôm vì có tính chất phong phú về phát âm nên dồI dào hơn chữ Hán. Chữ
Hán (viết) được đọc trại đi theo lối phát âm Việt, đó là tiếng (nói) "Hán
Việt" (chữ Nho hay Hán đọc bằng âm Việt). Không ai biết được tiếng "Hán
Việt" có từ thuở nào.
Trong suốt thời đại tự chủ trải qua các triều
Ngô, Ðinh, Lê và Lý gần 3 thế kỷ (939-1225), chữ Nôm phát triển một cách
âm thầm nhưng chậm chạp vì gặp sự chống đối, chê bai của các nhà Nho quá
tôn sùng đạo Khổng, tiêm nhiểm quá sâu Hán học. Ðến thế kỷ 13, dưới đời
nhà Trần (1225-1413) thì chữ Nôm được xem như là "chữ quốc ngữ", phát triển
mạnh nhưng chỉ trong phạm vi thi phú mà thôị Vào thời Nguyễn Tây Sơn (1788-1802)
thì chữ Nôm mới có địa vị chính thức, phát triển mạnh, đi dần đến quần
chúng; tuy nhiên nó vẫn bị giới trọng Nho học khinh rẻ.
Vua Quang Trung (1788-1792), với tinh thần cách
mạng, đã bắt buộc thần dân dùng chữ Nôm làm văn tự chính thức, thay chữ
Hán. Ông nói :"Người nước Nam, phải dùng tiếng nước Nam, phải có văn
chương đặc biệt nước Nam, để gợi tinh thần nước Nam, không cần đi mượn
tiếng, mượng chữ nước Tàu" Nhưng vị vua này có số quá ngắn khi ông
lên ngôi năm 1788, đến ngày 29/7/1792 thì băng hà, hưởng dương 40 tuổi,
làm vua không đầy 5 năm.
Như ta đã thấy trong khi chữ Hán sử dụng trong
hành chánh, thì chữ Nôm, phát triển vào thời Tùy Ðường, là loại chữ mang
tính cách văn chương và đặt nền tảng trên chữ Hán; nghĩa là muốn biết hay
viết chữ Nôm, ta phải biết chữ Hán. Tới thờI Quang Trung thì chữ Nôm chỉ
được xem trọng có 5 năm. Do đó chữ Nôm không thể phổ biến rộng rãi trong
dân gian. Muốn ghi lại kho tàng văn học trong dân gian, ta phải có chữ
dễ học, dễ viết, dễ đọc và nhất là nó phải phản ảnh tiếng nói và tình tự
của dân tộc, không phải của chỉ Nho gia mà thôị Tuy nhiên các nhà Nho lại
coi trọng tiếng Hán Việt mà khinh miệt tiếng thuần Việt.Họ đã nói quá nhiều
tiếng Hán Việt, viết chữ Hán và dùng điển tích Trung Hoa trong văn chương
bác học.
Văn chương cổ điển của ta gồm hầu hết là những
tác phẩm "văn vần" (thi ca phú lục) được coi là cao quí hơn "văn xuôi".
Vua Quang Trung là người đầu tiên nói lên sự thật về việc thê ' nào là
độc lập và thế nào là dân tộc. Nhưng dù sao ta vẫn còn nô lệ về Hán tự
cũng như kinh điển của Trung Hoa -- những sản phẩm dành cho giới sĩ phu
mà thôị Vậy còn dân gian còn lại thì sao ? Như ta đã biết "quốc âm" là
tiếng mẹ đẻ, tiếng nói riêng biệt của một dân tộc, "quốc ngữ" là chữ viết
của riêng dân tộc nàỵ Theo Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị" của Huỳnh Tịnh Của (1895)
thì "tiếng ta, chữ ta" (quốc âm, quốc ngữ) chính là chữ Nôm (chữ quốc ngữ
nho hóa) được tổ tiên sáng tạo cộng với "chữ quốc ngữ la tinh hoá" sau
này. Nhưng chữ Nôm khi được viết hay đọc ra không phải ai cũng đều hiểu
nỗi, nếu như họ không thông chữ Hán. Yếu tố độc lập về ngôn ngữ và văn
hoá vẫn còn bị nô lệ Tàụ Như vậy "chữ nước ta" chỉ còn lại "quốc ngữ la
tinh hoa", vì nó có thể giúp phản ảnh hoàn toàn tình tự của đa số toàn
dân Việt, không kể kẻ học ít hay học nhiều và còn có thể tải và duy trì
cả văn chương bác học và bình dân. Như vậy, vào đầu thế kỷ 20, ta đã có
chữ viết mới phản ảnh kỳ diệu "âm nói" (quốc âm; tiếng ta) mà cả người
bình dân cũng học được và hiểu được. Dân trí của nước nhà đã được nâng
cao như một cơn sóng thần ào ạt.
Sự phổ biến "chữ quốc ngữ la tinh hoá" (chữ ta)
đã tạo ra văn thể mới : văn xuôị Văn xuôi này được sử dụng triệt để bởI
ông Alexandre de Rhodes trong tác phẩm "Bài Giảng Tám Ngày" 300 năm trước
đâỵ Nó đươợc thấy xuất hiện trong bộ Kinh thánh và Kinh nguyện chính thức
của giáo hội này ở VN. Như vậy, chính Công giáo đã đi tiên phong về văn
xuôị Tại miền Nam, Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của đã phổ biến chữ quốc
ngữ "văn xuôi" qua các tác phẩm như "Chuyện Khôi Hài"(Trương Vĩnh Ký) hay
"Chuyện Giải Buồn" (Huỳnh Tịnh Của).
Trong khi đó thì tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, giới
Nho học vẫn phản kháng và dùng chữ Hán. Ðó chỉ là việc tiếp nối truyền
thống "Nho Tàu", trọng Hán khinh Việt. Rồi chữ quốc ngữ đã chuyển mình
để có thể tải được cả văn hoá Âu Tây và văn hóa dân tộc : đó là cái mốc
lịch sử cho dân VN bắt đầu giao tiếp với thế giới bên ngoài. Mặt khác,
mỗi dân tộc đều có quyền tự quyết và không thể chấp nhận chính sách thực
dân, thuộc địa hay bảo hộ.
Ngày nay, theo đúng công pháp quốc tế, thì không
một quốc gia nào được quyền xâm phạm chủ quyền cai trị và lãnh thổ của
một nước khác. Như vậy, chính sách thực dân là không hợp pháp. Tuy là không
hợp pháp nhưng nó lại là một thực tế và là chuyện phải xảy ra trong lịch
sử không sớm thì muộn. Lịch sử của thế giới đã cho thấy Á châu không ngừng
xâm lấn và tràn sang các vùng lâ n cận. Rồi La Mã đã chận được sự tràn
lan của đế quốc Ba- Tự Vào thế kỷ 12-13, Mông Cổ chiếm Nga, Hung Gia Lợi,
Áọ Hốt Tất Liệt chiếm trọn Trung Hoa rồi tràn vào Việt Nam. Thế kỷ 15-
16, Thổ Nhị Kỳ từ Ðông Á đánh sang Ðế quốc La Mã. Còn Âu châu ? Âu và Á
thường ít tiếp xúc nhaụ Tuy nhiên con đường buôn bán đã làm họ gần nhaụ
Marco Polo đã tới Trung Hoa vào thế kỷ 13. Vào thế kỷ 15 thì người Ý và
Bồ Ðào Nha đi đường biển đến Á châu.
Nói chung người Âu đi tìm thuộc địa và thương
trường. Chính sự phát triển về văn minh của Âu châu đã biến họ thành một
đế quốc và sức bành trướng của đế quốc này thật khủng khiếp. Các đế quốc
xưa kia đã sụp đổ chỉ vì chậm tiến về kỹ thuật và cơ giớị Á châu xưa kia
đi xâm lăng Âu châu nay lại bị xâm lăng trở lại. Chiến tranh ở Âu châu
vào thế kỷ 18 đã làm cho Anh rảnh tay thiết lập một hạm đội hùng mạnh.
Canada của Pháp bị Anh chiếm. Pháp bị đẩy ra khỏi Ấn Ðộ; rồi Anh đoạt các
thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Ðào Nha. Các quốc gia ở Mỹ châu dành lại
độc lập, nhưng vẫn thuộc vào người da trắng. Vào thế kỷ này Anh và Pháp
làm mưa làm gió, đua tranh nhau tiến bộ trên cả về chính trị và kỹ nghệ,
và thay phiên nhau tìm thuộc địa.
Vào thế kỷ 19, Âu châu phát triển cực mạnh về
kinh tế và dân số. Nạn nhân mãn bắt họ phải di dân, chiếm thuộc địa, tìm
tài nguyên, kiếm nhiên liệu cho kỹ nghệ. Cán cân cung và cầu bắt buộc họ
phải có nơi tiêu thụ cho các sản phẩm. Vì thế cuộc chạy đua đi kiếm thuộc
địa trở thành mãnh liệt và man rợ. Ðây là thời kỳ mạnh được yếu thua; chậm
tiến thì bị chiếm làm thuộc địa.
Vào năm 1849, Anh đã hoàn toàn chiếm Ấn Ðộ. Vào
1887, Anh chiếm Miến Ðiện, sau khi lấy Singapore, Aden và Hong Kong. Nga
chiếm Tân Cương và Siberiạ Còn Pháp thì chiếm Ðông Dương. Sự trang bị cho
các nước thuộc địa đã giúp cho nền thương mại Âu châu phát triển. Có hơn
50 triẹu người Âu trên các thuộc địa mà họ chiê 'm. Sự có mặt của người
Pháp cũng đứng trên bình diện này, đó là lý đương nhiên của thờI thế và
không thể tránh khỏị Còn sự xâm lăng và đồng hóa của Việt Nam đối với Chiêm
Thành và Chân Lạp là lẽ đương nhiên ? Vấn đề thuộc địa và đồng hoá của
người Việt trên đất Chiêm và Chân Lạp Vào thời Lý Thánh Tông (1054-1072),
ta đã lấy một phần đất của Chiêm Thành. Việt Nam và Chiêm Thành thường
hay xung đột nơi biê n giới Từ ngày ta đã được tự trị, tránh được ách thống
trị của Trung Hoa, thì ta và Chiêm Thành thường giao tranh; ta coi Chiêm
Thành là cái nhọt "khó trị". Vào năm 1065-1069, Chiêm Thành không chịu
triều cống Việt Nam. Ta dem quân đánh họ. Chiêm lại đầu hàng, tuy nhiên
sự hàng phục này rất ngắn; lý do là người Chiêm là một dân tộc có nền văn
minh riêng biệt, một dân tộc mạnh, có óc quật cường và chí phục thù rất
bền bĩ. Theo Việt Sử Toàn Thư, người Chiêm lén lút thần phục nhà Tống;
ta bình Chiêm chỉ vì từ đời Lý, ta đã có ý đồ đế quốc, muốn mở rộng bờ
cõi về phương Nam. Nghe tin quân Chiêm quấy nhiễu, Lý Thánh Tông đem quân
tràn sang Chiêm, nhưng thất bạị Qua lần thứ hai, ông bắt được Chế Củ (1069).
Hiển hách về triều, Lý Thánh Tông tự xưng niên hiệu là Thần Võ. Chế Cũ
muốn duy trì quốc gia đành dâng Việt Nam 3 châ u để chuộc tội : Ðịa Lý,
Ma Linh và Bố Chính.; đó là các vùng thuộc tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị
ngày naỵ Sau khi lấy được 3 châu, Lê Thánh Tông bèn tha Chế Củ cho về nước.
Năm Tân Sửu (1301), sau 9 tháng vân du Chiêm Thành, Thượng Hoàng Trần Nhân
Tông (1279-1293), trong bữa tiệc tiễn hành, vì cảm hứng, hứa gả con gái
là Huyền Trân công chúa, vừa được 16 tuổi, cho chúa Chiêm Thành Chế Mân
(Cri Saya Sinhavarman III). Ðề nghị của Trần Nhân Tông gặp sự chống đối
của triều đình.
Sau 5 năm dàn xếp và sau khi Chế Mân nạp đầy đủ
sính lễ, năm 1306, lễ vu qui của Huyền Trân công chúa, vừa đúng đôi mươi,
được tổ chức linh đình, song dân giang đã đàm tiếu và chế diễu :
Tiếc thay cây quế Châu Thường
Ðể cho thằng Mán, thằng Mường nó leo !
Theo "Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư" của Ngô Sĩ Liên
thì lúc này Trần Nhân Tông đã đi tu, và Ngô Sĩ Liên đặt câu hỏi là tại
sao Trần Anh Tông đang trị vì mà sao không đổi lại lịnh đem em gả cho người
xa lạ, không cùng giống nòi, chỉ để giữ lời hứa của cha, rồi lại dùng mưu
gian trá cướp em về, thế thì chữ tín ở đâu ? Phạm Văn Sơn của "Việt Sử
Toàn Thư" thì viết :"Thượng Hoàng Trần Nhân Tông và triều đình quyết định
gả Huyền Trân cho vua Chiêm Thành vì lý do chính trị tức là thắt chặt tình
thân thiện Việt-Chiêm, không hề đá động đến việc đem ả thuyền quyên đổi
2 châu Ô, Rí (còn gọi là 2 châu Ô, Lý; đổi lại thành Hóa Châu và Thuận
Châu của Việt Nam, tức là Thừa Thiên và phân nữa các tỉnh Quảng Trị và
Quảng Nam ngày nay). Cuộc hôn nhân Huyền Trân - Chế Mân vô cùng ngắn ngủi,
chỉ tròn một năm (1306-1307). Hay tin Chế Mân băng hà, Trần Anh Tông sai
"Nhập nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ" Trần Khắc Chung sang Chiêm Thành
lập mưu đưa Huyền Trân về nước. Nói gì đi nữa thì Huyền Trân công chúa
chỉ đóng một vai trò nhỏ trong kế hoạch đổi chác để nới rộng biên cương
của nhà Trần.
Năm 1402, Hồ Quý Ly đánh Chiêm Thành lấy Chiêm
Ðộng (phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) và Cổ Lũy (phía Bắc của Quảng Ngãi).
Năm 1470, Lê Thánh Tông chiếm Ðồ Bàn, mở rộng tỉnh Quảng Nam và lâ .p tỉnh
Bình Ðịnh, lấy đèo Cù Mông làm biên giớI .
Vào 1611, Nguyễn Hoàng tiến quân qua khỏi Ðèo
Cả, biến vùng đất phì nhiêu mầu mỡ này thành tỉnh Phú Yên. Năm 1653, chúa
Hiền Nguễn Phúc Tần lấy đất Chiêm để lập ra 2 tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận.
Và cuối cùng vào 1693, Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu đánh bă 't vua Chiêm,
chiếm lấy Phan Rang và Phan Rí lập tỉnh Bình Thuận nằm giáp giới với Chân
Lạp. Nước Chiêm Thành đã bị xóa tên trên bản đồ từ đó. Năm 1698-1759, các
chúa Nguyễn Phúc Chu và Nguyễn Phúc Khoát chiếm đất Chân Lạp lập ra 6 tỉnh
Nam Việt. Dãi đất Việt Nam từ Ải Nam Quan tới Mũi Cà Mau bắt đầu thành
hình từ đây.
Theo Lê Văn Siêu trong "Việt Nam Văn Minh Sử Cương",
ông gọI cuộc Nam tiến của nhà Lý và nhà Nguyễn là "thực dân canh nông của
dân Việt..." và "Về sự bành trướng, nó có công mở lốI đặt thêm bước chân
của người Việt về phía Tây (chiếm một phần đất của Lào), đến khắp lãnh
thổ Ðông Dương, để cuộc thực dân canh nông của dân Việt tiến hành công
trình đồng hóa trên các dân tộc kém tiến bộ khác..." Mô tả về sự lấn đất
của người Chiêm, Lê Văn Siêu viết : "Trong thời kỳ toàn thịnh, dân chúng
Ðại Việt đã lan tràn về Miền Nam, sống lẫn với dân Chàm, rồi lấn đất dần
dần một cách ôn hòa đến Thừa Thiên bây giờ, để quân đội đi sau những biến
cố lịch sử hay chiến tranh mà xác nhận, rồI chiếm hữu.
Cả trong thời kỳ suy yếu, chính sách thực dân
canh nông của Ðại Việt đúc kết cũng đã cứ theo đà tự nhiên của nó mà tiến
dần qua dèo Hải Vân xuống tới Ðõi Chiêm, Cổ Lũy (Quảng Nam, Quảng Ngãi).
Ta đã làm gì với người Chiêm Thành ? Việc đồng hoá và diệt chủng này đã
được Lê Văn Siêu mô tả như sau : "Phương pháp thực dân của Trung Hoa và
sức đồng hóa của nó, dù đã ghê gớm như ng chưa chắc đã có nghĩa lý gì đối
với phương pháp "thực dân canh nông" của người VN.
Cứ xem trên 1000 km từ Thừa Thiên trở vào, người
VN tiến tới đâu là đồng hóa dân ở đấy cho trở thành người VN hết, mà chỉ
trong vòng 300 năm." Mặt khác, ta đã tiêu hóa văn minh Chàm và làm mất
đi tiếng nói của họ nữa . Lê Văn Siêu gọi chính sách thực dân và đồng hoá
này là "cứ theo đà tự nhiên của nó mà tiến dần". Như vậy, so với chính
sách thực dân của Pháp thì có "đương nhiên" hay không ? Hay là cái gì mà
ta làm cho các dân tộc yếu kém khác là "đương nhiên" mà người khác làm
cho ta là "không đương nhiên" ? Sau khi dùng chính sách "thực dân nông
nghiệp" để nuốt trọn Chiêm Thành, ta đã làm gì cho dân Chân Lạp xa hơn
về phương Nam ? Như ai cũng biết, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635)
có 4 người con gái : Công nữ Ngọc Liên gả cho con trai của Mạc Cảnh Huống
(vợ Huống, bà Nguyễn Ngọc Dương là em vợ của Nguyễn Hoàng, tức Chúa Tiên,
1558-1613); Công nữ Ngọc Ðỉnh gả cho Nguyễn Cữu Kiều (thân nhân tín cẩn
của bà Ngọc Tú, vợ Trịnh Tráng), Công nữ Ngọc Vạn và Công nữ Ngọc Khoạ
Vào năm 1622, vua Chân Lạp Chey Chetta II (1618-1627) đã xin cưới Công
nữ Ngọc Vạn khi ông ta vừa lập kinh dô tại Oudong. 9 năm sau, Chúa Sãi
lại gả Công nữ Ngọc Khoa cho vua Chiêm Thành Po Romé (1627-1921). Cả hai
cuộc hôn nhân này là một toan tính của Chuá Sãi nhằm tránh khỏi 2 gọng
kềm : họ Trịnh ở phương Bắc và muốn có một thế chính trị ở phương Nam nhằm
dồn sức đương đầu với quân Trịnh. Chân Lạp (Nam VN + Cao Miên + một phần
của Ðông Thái Lan) là một quốc gia thường bị nước láng giềng Xiêm xâm lăng
cướp bóc của cảị Năm 1563, quân Xiêm tấn chiếm Battambang, Pursa và kinh
đô Lovek, phá tan cung điện, đốt hết thư tịch, vơ vét của cải và bắt vua
Chân Lạp Soryopor đem về Xiêm. 20 năm sau, năm 1603, Xiêm tha cho Soryopor
về nước. Soryopor lên ngôi lại từ 1603-1618 thì bị bắt buộc thoái vị, nhường
ngôi cho con là Chey Chetta II (1618-1627). Chey Chetta phong con là Prea
Outey làm phụ chính phục hồi triều nghi Chân Lạp, không thần phục Xiêm
nữa và dời đô đến Oudong về phía Nam xa kinh đô Lovek bị tàn phá. Khi biết
chúa Sãi có ý định muốn gả con để cầu thân, Chey Chetta II rất mừng. Tuy
đã có vợ Lào và 3 đứa con trai, vua Chân Lạp vẫn xin cưới con của chúa
Sãị Lý do Chey Chetta II làm vậy cũng vì muốn nương thế lực của chúa Nguyễn
để chống lại thế lực của Xiêm ở sát cạnh. Về phần Công nữ Ngọc Vạn dĩ nhiên
là bà rất buồn, nhưng vì giòng họ Nguyễn nên sẵn sàng lãnh nhiệm vụ của
cha già giao phó.
Vào mùa xuân 1620, vào mùa gió thổi Ðông Nam,
một chiếc hải thuyền nhỏ được chỉ định kín đáo rời Thuận Hóa đưa Công nư
~ Ngọc Vạn vu qui. Cùng tháp tùng chỉ có một số gia nhân tín cẩn và ít
vị quan trung thành được chọn hầu hạ công nữ trong buổi ban đầu đến xứ
lạ quê ngườI. Thuyền vào cửa Ðại, sông Mỹ Tho, ngược giòng sông Tiền lên
kinh đô nước Kambuya (Chân Lập) lúc bấy giờ là Udong. Sau hôn lễ, Công
nữ Ngọc Vạn biến thành Hoàng Hậu Somdech Prea Peaccayo và bắt đầu học tiếng
Khmer và Pali. Ngọc Vạn đối xử êm đẹp, hiền lành, ăn nói dịu dàng mềm mỏng
với mọi ngườI trong cung điện, với các quan trong triều và cả dân chúng
ngoài thành nên được mọi người kính trọng.
Ðám gia nhân và quan tùy tùng đều được định cư
luôn ở Chân Lạp. Ngọc Vạn quả là một người đàn bà giỏi dang. Về công nghiệp,
bà lập một xưởng dệt ngay trong kinh đô có dùng nhiều thợ. Về thương mại,
bà mở vài hiệu buôn giao cho người thân tín điều khiển. Về nông nghiệp,
dưới sự vận động của bà, một số người trong đám gia nhân được cấp đất trong
vùng kế cận kinh đô để tự cày cấy trồng trọt.
Ngọc Vạn còn làm một chuyện khác là xin vua cho
nông dân Việt được vào làm ăn khẩn hoang ở Mô Xoài (Bà Rịa - Biên Hòa)
thuộc miền Ðông Thủy Chân Lạp còn hoang vụ Sau khi tạo một chân đứng ở
Thủy Chân Lạp bằng cách gả con gái, thì 4 năm sau, năm 1623, chúa Sãi gởi
sứ bộ đến Oudong yêu cầu được lập một cơ sở ở Prey Kor (tức Saigon ngày
nay) để thu thuế hàng hóa và yêu cầu cho nông dân Việt được chính thức
lập đình triều ở Mô Xoài. Không biết rõ ý định của chúa Sãi, vua Chetta
II chấp thuận ngay. Rõ ràng chúa Sãi và Ngọc Vạn đã ăn rơ với nhau. Về
chính trị, Ngọc Vạn đã can thiệp để các quan lại VN cho giữ chức hệ trọng
trong triều.
Còn về quân sự ? Ngọc Vạn đóng vai trò rất quan
trọng. Năm 1627, vua Chey Chetta II băng hà. Ðang tuổi thanh xuân, trở
thành góa bụa, phải sống mãi trong hoàng cung đến tuổi già và chờ ngày
nhắm mắt nên bà đã chứng kiến tất cả sự giết chóc tranh giành ngôi vua.
Khởi đầu, Pona To (Ang Saur) con đầu lòng của Chetta có mẹ Lào lên ngôi.
Phụ chính Prea Outey giết Pona và lập em của To là Pona Nou lên ngôi. Sau
khi Nou chết, Outey lập con mình là Ang Non lên làm vua. Con thứ ba của
Chetta có mẹ Lào được người Lào hợp tác, ám sát giết Outey và Ang Non rồI
lên ngôi tức Rama Thuppday Dhipati Chan (Nặc Ông Chân). Năm 1658, 2 con
của Outey là Ang So và Ang Tan dấy binh đánh Nặc Ông Chân để trả thù cha
và anh. Thất bại, Ang So và Ang Tan chạy đến nương náu bà Thái Hậu Ngọc
Vạn, lúc đó người thiếu nữ ngày xưa bây giờ đã 57 tuổi.
Hiểu rõ tình hình Chân Lập bất ổn vì tranh quyền,
việc nước buông trôi, nên Ngọc Vạn kêu gọi chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)
can thiệp bằng quân sự. Mặc dù về phía Bắc đang đại chiến với quân Trịnh
trận lần thứ Năm, nhưng chúa Hiền đã nắm cơ hội này, đáp lời bà Cô, sai
tướng Nguyễn Phước Yến đem 2000 quân đánh vào Chân Lạp, bắt Nặc Ông Chân
bỏ vào củivà giải về Quảng Bình một thời gian. Chúa Hiền phong Ang So làm
vua Chân Lạp. Sau đó, Nguyễn Phúc Trú mở mang đất Gia Ðịnh và bảo hộ đất
Chân lạp. Dưới đời Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), ta đuổi dân Chân Lạp
về phía Tây và mở mang bờ cõi qua khỏi Gia Ðịnh.
Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, nguyên
nước Chân Lạp ở vào khoảng dưới sông Cửu Long, có lắm sông, nhiều ngòi,
ruộng đât thì phì nhiêu mà nước Nam ta thường hay mất mùa, dân tình phải
đói khổ luôn, và lại vào lúc Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh đánh nhau, cho nên
có nhiều người bỏ vào khẩn đất, làm ruộng ở Mõ Xoài (Bà Rịa), và ở Ðồng
Nai. Vậy vùng đất 6 tỉnh bây giờ là ta đã chiếm lấy là của Thủy Chân Lạp.
Ðứng trên phương diện dân tộc, ta đã từng chữi "lũ thực dân da trắng phương
Tây" là bọn sài lang thâm độc, đi đến đâu cũng đem tang tóc, điêu linh
cho đồng bào. Ta tự hào là đã chống xâm lăng phương Bắc, "mở rộng" về phương
Nam, để rồi thống nhất sơn hà năm 1802. Tuy nhiên, không quên câu "mạnh
được, yếu thua", ta cũng đã từng nuôi tham vọng đế quốc và đồng hóa 2 nước
nhược tiểu là Chiêm Thành và Chân Lạp, và ta đã thành công trong âm mưu
đó. Ðứng trên phương diện lịch sử khách quan, ta đã thấy việc lâ 'y Chiêm
Thành và Chân Lạp là một chính sách thực dân không thua kém gì chế độ thực
dân Pháp ở Ðông Dương, và nói đúng hơn, nó còn hơn một bậc vì ngoài việc
chiếm đất ta còn đồng hóa họ.
Hiến Tổ (1841-1847) :Thiệu Trị
Vào năm 1841, Hoàng Thái Tử Miên Tông lên
ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị Theo Louvet (La Cochinchine Religieuse)
tính tình của Thiệu Tri thuận hòa, hay nói cho đúng là ủy mị, ham thích
những thú vui dâm dật. Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn thì khen ông ham
văn chương và sử ký. Năm 1842, ông cho biên soạn cuốn "Ðại Nam Liệt Truyện
Tiền Biên" gồm đủ các nhân vật chính trị quan trọng của nước nhà. Ông cũng
làm nhiều bài thơ để ca ngợi các việc dẹp loạn.
Vào năm 1842, Thiệu Trị có ra Hà Nội nhận thụ
phong từ vua Tàu Năm 1845, 2 vụ đi Tàu đã diễn ra liên tiếp : một là để
cảm tạ và hai là mang đồ triều cống. Thiệu Tri kém Minh Mạng ở chỗ thông
minh và tàn bạo, do đó việc bắt đạo không dữ dội hơn trước. Tuy nhiên,
ông không hủy bỏ những dụ cấm đạo mà cũng không xúi giục các quan bắt đạo.
Việc hành chánh thì noi theo các qui mô của Minh
Mạng. Vào cuối đời Minh Mạng thì có loạn nổi lên ở Nam Kỳ và Chân Lạp (Cao
Miên). - Nam Kỳ có giặc giã do Lâm Sâm và các nhà sư nổi loạn ở Trà Vinh,
dân Chân Lạp cũng nổi dậỵ Tại Chân Lạp thì người Miên hợp với Xiêm đánh
phá chánh quyền bảo hộ. Giữ không được Lục Chân Lạp, quân ta rút về và
đó là lúc Thiệu Trị vừa lên ngôi. Tạ Quan Cự yêu cầu Thiệu Trị rút khỏi
Cao Miên để trở về bình định Nam Kỳ. Trương Minh Giảng lấy làm buồn bực
mà chết ở An Giang.
Theo Việt Sử Toàn Thư, tại Pháp, dư luận quần
chúng vẫn chưa hết xúc động về những vụ bắt đạo ở VN dưới thời Minh Mạng.
Tờ "Annales de la Propagation de la Foi", cơ quan truyền thông của hội
Truyền Giáo, luôn luôn có nhắc đến những vụ giết và cấm đạo tàn nhẫn ở
VN nên một số người Pháp đã yêu cầu triều đình can thiệp. Thiệu Trị có
chính sách hòa hoãn. Ðây là thời kỳ mà Công giáo cố gắng để gầy dựng lại
cơ sở. Giám mục Taberd không thể trở lại VN; ông đã phái giám mục Cuénot
lo chuyện này và giúp việc truyền đạo. Cuénot có ý định truyền giáo lên
miền Thượng (xứ "mọi") dẫn đầu bởi các thừa sai Miche và Duclos. Nhưng
nhóm người truyền giáo này bị bắt trên đường đi và được dẫn về Phú Yên
vào 24/2/1842. Họ đươc đưa về Huế và giam tại Trấn Phủ. Cùng bị giam với
họ có Galy, Berneux và Charrier thuộc các địa phận ở Bắc Việt. Cả 5 đều
bị án xử tử, nhưng Thiệu Trị chưa ra lịnh đem xử vì ông đang theo dõi những
biến cố ở Trung Hoa, nơi đây "lũ bạch quỹ" đang đại thắng.
Ngày 24/2/1843, một chiến thuyền cở nhỏ tên Héroine
vào Cửa Hàn. Viên thiếu tá Favin-Lévêque xin phóng thích 5 giáo sĩ bị kết
án tử hình trên. Quan quân ta cố ý lẩn tránh việc này, nhưng Favin- Lévêque
cương quyết tới Huế nên 3 tuần sau họ được thả ra. Sang 1845, một giám
mục tên Lefèbvre cũng bị án xử tử; Pháp đem tàu Acmène vào Ðà Nẳng để bảo
lãnh; sợ sự can thiệp bằng vũ lực, Thiệu Trị ân xá Lefèbvre và bắt ông
phải trở về Singapore.
Vào 1847, đại tá Lapière và trung tướng Rigault
de Genouilli đem 2 chiến thuyền La Victorieuse và La Gloire đến thị oai
ở Cửa Hàng. Lapierre gởi thơ phản đối triều đình VN đối xử dã man với các
thừa sai và yêu cầu VN noi gương Trung Hoa cho dân chúng được tự do hành
đạọ Một tháng sau thì Thiệu Trị mới trả lời và "huy động" lực lượng quân
sự ở Cửa Hàng đón tiếp người Pháp.
Theo Louvet trong "La Cochinchine Religieuse"
thì Thiệu Trị dụ 2 sĩ quan kia vào dự tiệc và nhân dịp này các người Pháp
sẽ bị giết hết. Việc tiếp đãi không thành vì 2 sĩ quan kia được thông báo
về âm mưu, nhưng việc đánh tàu Pháp vẫn được tiếp tục. Ðoàn thuyền VN gồm
5 chiến thuyền tối tân và 100 chiếc ghe bao vây 2 tàu Pháp. Sau trận hải
chiến, các tàu Pháp ra đi và để lại hậu quả vô cùng tai hại cho người công
giáo VN. Việc thầy giảng Louvet báo tin cho Lapierre hay là VN sắp làm
thịt họ là một hành động thiếu khôn ngoan. Một số sử gia VN dựa vào sự
kiện này để quả quyết là người công giáo VN theo Tây. Hay tin hải quân
thất trận ở Cửa Hàn, Thiệu Trị nổi giận và phá hủy các tặng phẩm của Pháp.
Không giết được ngườI Âu, Thiệu Trị sai người vẽ hình họ và bắn vào để
thoả mãn sự tư 'c giận (Louvet : La Cochinchine Religieuse). Liền đó, Thiệu
Trị ra lịnh bắt giết hết các giáo sĩ phương Tây trong nước. Cứ mỗi đầu
người Pháp là 30 đính bạc (Nam Xuân Thọ: "Phan Thanh Giản"). Các quan không
thi hành lịnh này môt cách gắt gao. Thiêu Trị bi lên cơn sốt và mất vào
4/11/1847. Ông làm vua được 7 năm và chết năm 37 tuổI. Thiêu Trị có 19
người con.
Người con cả là Hồng Bảo không được nối ngôi vì
ham chơI bời và phóng đãng không được lòng vua cha, nhưng người con thứ
là Tự Ðức được lên làm vua. Sau những đụng độ này, thay vì phải thấy rằng
trước sau gì bọn thực dân sẽ trở lại, và lối thoát duy nhất để chống giặc
là tức khắc canh tân xứ sở, làm mạnh quân đội, kêu gọi toàn quân chuẩn
bị chống xâm lăng, thì hởi ơi, nhà vua và triều thần chỉ làm những chuyện
bất nhân, nghịch lý và vô bổ như chém giết đồng bào vô tội chỉ vì họ muốn
được tự do tín ngưỡng.
Trước 1853, Nhật không phải là một nước phong
kiến, lạc hậu và chia rẽ hay sao ? Vậy mà việc bị hạm đội Mỹ thị uy ở hải
cảng Yedo đã khiến cho dân Nhật cảm thấy nhục nhã, nên quân và dân đã đoàn
kết sau lưng Minh Trị Thiên Hoàng bỏ tinh thần bài ngoại, canh tân và xây
dựng đất nước hùng cường.
Dực Tông (1847-1883) : Tự Ðức
1.- Triều đình và cơ hội
canh tân : Thiệu Trị mất, người
con thứ hai lên ngôi lấy hiệu là Tự Ðức, 19 tuổi. Sứ Tàu đến phong vương
vào ngày 10/9/1849. Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, thì vào thời
này, Pháp xâm chiếm nước ta và như thế, xã hội đã đổi khác. Cần biết rõ
về con người của Tự Ðức để đoán xét việc làm của ông. Tự Ðức có dáng nho
sĩ, thấp, hơi gầy, tính hiền lành, rất có hiếu, siêng năng, hiếu học (đêm
nào cũng đọc sách tới khuya), hay sáng tác sách chữ nôm để dạy dân như
Thập Ðiều, Tự Học Diễn Ca, Luận Ngữ Diễn Ca,...
Nếu dựa vào chân tướng và thói quen đó, Tự Ðức
không thể là người tàn ác như có nhiều tài liệu lịch sử khác lên án ông.
Nếu Tự Ðức có dùng những phương pháp cứng rắn chẳng qua chỉ vì ông phải
cai trị VN trong một khoảng thời gian vô cùng khó khăn. So với Minh Mạng
thì Tự Ðức không độc tài bằng MM, không mang mối thù hằn nhỏ nhen. Tự Ðức
là con người sáng suốt biết dùng người. Trong triều có những vị quan thanh
liêm như Trương Ðăng Quế, Vũ Trọng Bình; trung liệt như Phan Thanh Giản,
Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu,... Theo Schreiner trong "Abrégé de l'Histoire
d'Annam" thì các vị thừa sai thời ấy cho 2 người nổi bật là Phan Thanh
Giản (phe chủ chiến thì khi dễ ông; Tự Ðức thì trách Phan Thanh Giản bán
đứt 3 tỉnh miền Ðông của Nam Kỳ trong việc ký hoà ước 1862, tuy nhiên sau
đó vẫn sai ông đi đàm phán với Pháp) và Nguyễn Tri Phương.
Ðứng trước lịch sử, so với 2 người này, Tự Ðức
chỉ là một nhân vật tí hon. Theo Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn, các
người tài trên chỉ đủ sức đối phó với những biến cố cục bộ, nhưng vớI những
sự việc lớn lao hơn thì họ không đủ khả năng đảm đương nổị Thực vậy, vào
lúc này, so với Á châu thì Âu châu đã tiến vượt bực. Họ tổ chức xã hội
có qui củ, làm ra nhiều máy móc tinh xảo để phục vụ đời sống hằng ngày,
đóng được tàu bè, xe cộ, tha hồ ngược xuôi khắp thế giới.
Họ chế tạo ra máy điện, máy nước thuận tiện và
biết làm súng đạn hết sức lợi hạị Nhờ đó, kỹ nghệ, kinh tế, thương mại
của họ nở rộ; nhiều sản phẩm được đem bán khắp các nơi để thâu về nhiều
nguồn lợi lớn lao và đó cũng là lý do nảy sanh ra chế độ thư .c dân. Theo
Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, vào khoảng thời gian này, đình thần
của Tự Ðức vẫn như "ếch ngồi đáy giếng". Trong lúc tình hình chung quanh
rất nguy ngập, sự học thuật của thiên hạ đã tiến bộ nhiều cũng như sự cạnh
tranh của các nước còn dữ dội hơn trước, thì nhóm quan lại kia chỉ chăm
lo văn chương, khéo nghề nghiên bút, bàn đến quốc sự thì đem Nghiêu, Thuấn,
Hạ, Thương, Chu, việc của mấy nghìn năm trước cứ đem làm gương cho thời
hiện tại; rồi cứ nghêu ngao tự xưng mình hơn người, cho thiên hạ là dã
man.
Các vị quan ở chung quanh Tự Ðức toàn là như thế.
Họ cho Tàu là mạnh, tự cho mình văn minh, còn người Tây phương là dân mọI
rợ. Giới trí thức, do cái lò từ chương và cử nghiệp đào tạo ra, nghĩ rằng
thơ hay phú giỏi là đủ để lo việc nước, lấy chuyện cổ nước Tàu làm mực
thước. Thực vậy, Tự Ðức và triều thần của ông gần như là những người mù,
điếc, mê ngủ dù đã được bao kẻ sáng suốt, thức thời, học cao hiểu rộng
đánh thức và nài nỉ họ tỉnh giấc Nam Kha, hãy tự ngẩn mặt lên nhìn trời
cao để quyết định cho số phận của đất nước và dân tộc mình, chứ đừng ỷ
lại vào thiên triều vì chính thiên triều ở phía Bắc cũng đang lao đao,
khốn đốn, nhục nhã hằng trăm hằng vạn lần VN vì hèn yếu để cho Tây phương
xâu xé đất đaị Rốt cuộc họ vẫn lì lợm, u mê, ngoan cố, tự kiêu hãnh vì
cái tôi ngu dại lỗi thời của triết lý Nho Hán xa xưạ Họ khư khư cho cái
gì thuộc về dân tộc là nhất, do đó không chịu nhìn ra phía ngoài coi các
dân tộc khác tiến bộ ra sao hầu cải tiến để theo kịp xứ người. Như ta đã
biết, các người từ ngoại quốc về đem chuyện văn minh, khoa học ra bàn thì
triều thần cho là ngụy ngôn, tà thuyết. Có vài người đuợc đi du học từ
năm 1866 như Nguyễn Ðức Hậu, Nguyễn Ðiều, Nguyễn Trường Tộ (một ngườI Công
giáo); họ đã làm mấy bài điều trần cho vua, kể hết tình thế của nước nhà,
cảnh tượng của nước người. Tộ xin vua Tự Ðức hãy mau cải cách mọi việc,
nếu không thì nước mất. Vua giao tờ điều trần cho các quan duyệt nghị.
Ðình thần cho Nguyễn Trường Tộ nói càn, nói bậy, làm hủy hoại kỷ cương.
Các người khác đi ra nước ngoài như :
- Ðinh Văn Ðiền (1868) : Ðiền dâng điều trần đề
nghị những cải cách về ruộng đất, hầm mỏ, làm tàu hỏa, cho các nước phư
ơng Tây vào buôn bán, luyện binh sĩ tốt để đề phòng, thêm lư ơng thực cho
quan quân, bớt thuế má, thưởng cho kẻ có công, nuôi nấng kẻ tàn tật,...
- Nguyễn Hiệp (1879) : Hiệp đi sứ ở Thái Lan và
trở về báo cho Tự Ðức hay là khi Anh xin giao thương thì Xiêm cho ngay,
vì vậy Anh không có cớ để gây sự. Việc Xiêm giao hảo luôn cả Pháp, Phổ,
Ý, Mỹ,...là khôn ngoan vì nhờ đó Xiêm không bị gây sự, vì ai cũng có lợi.
- Lê Ðĩnh (1881) : Ðĩnh đi sứ Hương Cảng và trở
về cho Tự Ðức biết là các nước phương Tây mà phú cường là nhờ ở việc binh
và buôn bán. Nếu ta bắt chước phương Tây đi buôn bán và mở rộng giao thiệp
thì quyền độc lập sẽ giữ được.
- Hàn-lâ m-học-sĩ Phan Liêm : dâng mật sớ cho
Tự Ðức đề nghị khai thông buôn bán, chung vốn lập hội, cử ngườI đi học
về hầm mỏ.
- Bùi Phủng,... Nhưng tất cả đều bị đình thần
cản trở.
Trần Trọng Kim nói là trong khi vua thì ngồi trong
4 bức tường của cung điện, quan là tai mắt của vua mà trong số đó, số người
biết thì ít, không biết thì nhiều, trông không rõ, nghe không thấy, chỉ
một niềm giữ thói cũ để thủ lợi cho mình, ỷ làm quan cao thì cho mình thô
ng minh hơn những người khác, lớn tuổi thì cho mình thông minh hơ n kẻ
nhỏ tuổi hơn....Thế là khi tai họa dán xuống thì cũng rụt cổ dâng hết mãnh
đất này tới mãnh đất khác. Họ chỉ giỏi giết người Việt công giáo.
2. Ngoại giao và cấm đạo :
Không
khá hơn Minh Mạng và Thiệu Trị, Tự Ðức lại đi thi hành chính sách bế môn
tỏa cảng, mặc dù các việc xin giao thiệp chỉ có tính cách thương mại :
- 1850 : một tàu của Mỹ dâng thơ xin vào buôn
bán ở Ðà Nẳng. Vua không tiếp thơ.
- 1855-1857 : các tàu Anh, Pháp, I-Pha-Nho xin
vào mấy lần ở Ðà Nẵng, Bình Ðịnh (cửa Thị Nại) và Quảng Yên để buôn bán,
cũng không được.
Từ khi mất Gia Ðịnh thì Tự Ðức mới đặt cơ quan
coi việc buôn bán, nhưng không có ai hiểu về việc buôn bán và giao thiệp
ra saọ Tới khi Pháp xâm lăng VN, đánh từ Nam ra Bắc như vào chỗ không người,
đám dân đen làm mồi cho súng đạn, nước mất vẫn hoàn mất. Thật là điều vô
cùng đáng tiếc cho đất nước.
Nói cách khác, các đại thần bu xung quanh Tự Ðức
đã hại ông. Một viên đại tướng Pháp, Le Myre de Vilers, mà còn thấy điều
này. Chính ông đã viết thơ cho Tự Ðức nói rằng :"Bọn tả hữu của Hoàng Thượng
đã làm cho Hoàng Thượng sai lầm việc nước." Ði sâu hơn vào lịch sử, người
ta thấy rằng Tự Ðức nhiều khi không dùng quyền hành của mình một cách độc
đoán. Việc bắt đạo dưới đời này phần lớn là do quan đình thần bu quanh
ông xúi giục, nhất là giới chủ chiến.
Vừa lên ngôi, Tự Ðức đã ân xá tù nhân, trong đó
có nhiều người Công giáo. Vào lúc này người Công giáo đang chờ một sắc
dụ nhìn nhận tư . do tín ngưỡng. Tự Ðức có phái người sang Pháp để dò la
thái độ của Pháp đối với Công giáo. Quan đi sứ về năm 1839 cho Tự Ðức hay
rằng chính phủ Pháp là một chính phủ nghịch đạo, không ưa gì Công giáo
thì chắc chắn Pháp sẽ không bênh vực Công giáo ở các nước khác. Do đó,
Tự Ðức liền ra một sắc dụ cấm đạo.
3. Sắc dụ cấm đạo 1848 :
"Ðạo Gia-Tô trước kia hai vua Minh Mạng
và Thiệu Trị đã cấm, thật là một tà đạo, vì ai theo đạo ấy, không còn thờ
phụng tổ tiên, lại móc mắt những người đã chết để làm thứ nước phép để
mê hoặc lòng người, họ còn làm nhiều điều dị đoan ghê gớm nữa, vậy các
giáo sĩ người phương Tây là kẻ có tội nhất, thì buộc đá vào cổ nó mà ném
xuống bể, ai bắt được người thì thưởng cho 30 nén bạc. Các giáo sĩ bản
quốc tội nhẹ hơn các thừa sai thì tra hỏi xem có bỏ điều lầm lỗi không,
bă `ng không chịu hãy đem khắc chữ vào mặt và đem đày vào những chỗ nước
độc.
"Những người dân theo đạo mà không chịu
bỏ đều là những đứa ngu dốt khốn nạn bị mấy giáo sĩ lừa dối, vậy trẫm vì
thương dân, truyền không nên chém giết hoặc đem đày hoặc bỏ tù những kẻ
ấy nữa, các quan nên trừng trị nghiêm ngặt rồi lại cho về quê quán."
4. Tình hình công giáo :
Sau khi bị Thiệu Trị đuổi ra khỏi nước, giám mục Lefèbvre lẽn trở lại VN
một lần nữa. Vào năm 1847, ông trốn ở họ Lái Thiêu, Saigon, để giúp phát
triển họ đạọ Các vị thừa sai khác thì thường trốn trong các hầm có tổ chức
chu đáo, có nhiều lối thoát và thường ở gần rừng. Trong khi đó, các họ
đạo được đặt ở dưới quyền điều khiển của các linh mục bản xứ. Tuy việc
cấm đạo đang diễn ra khắp nơi, mỗI năm có từ 500-600 tân tòng. Tại Huế
có khoảng 24,000 giáo hữu, 10 linh muc VN và 2 thừa sai.Giám mục Pellerin
được cử trông coi giáo phận này.
Tại Bắc Kỳ, vào năm 1850, vì phải tiếp đón sứ
Tàu, triều đình VN tốn khá nhiều tiền như phải dựng nhà dọc theo đường
hoặc dọc theo bờ sông để tiếp đón họ và cung cấp những người hầu hạ, đặt
làm nhiều thuyền nếu các sứ Tàu muốn đi đường thủy. Ði theo các sứ có 400
quân lính VN với gươm giáo. Lúc các sứ đi đường bộ thì dân phải lo kiệu
các ông và các đồ đạc của họ. Trong các đồ đạc này có một bao đất. Ðất
lấy từ bên Tàu được quan Tàu mang theo để ngửi mùi vị của quê hương (Launay
: "Mgr. Retord et le Tonkin Catholique"). Dù dân ta đón tiếp như thế, nhưng
quan Tàu vẫn tỏ ra khinh miệt người Việt. Trong khi đó, dù có chỉ thị cấm
đạo, giám mục Retord vẫn tổ chức lễ lạc ở Thanh Hoá. Quan thì không làm
khó dễ ông nhưng các viên chức thấp hơn thì luôn tìm cách gây chuyện.
Trong suốt thời gian trị vì, Tự Ðức gặp nhiều
khó khăn chồng chất kể từ ngày ông lên ngôi, ngoài vụ Hồng Bảo vì ghen
tức tìm cách bắt liên lạc với ngoại nhân cướp ngôi, bị giam rồi tự tử,
các con của Hồng Bảo phải đổi theo họ mẹ (1854). Các cháu của ông cũng
bị tử hình nhân loạn Chìa Vôi (1866). Các thiên tai như dịch tả (1849),
dịch hạch (1850) làm 2 triệu người chết. Nạn châu chấu (1854), đói (1860),
hạn hán và đói (1856), sĩ tử biểu tình không thi ở 4 tỉnh, 103 vụ nổI loạn,
giặc ngoài xâm lăng, 51 vụ cướp biển,... Thế nhưng, ông vẫn mang canh cánh
trong lòng việc giết đạo. Chính chính sách bắt đạo của ông và các vị tiên
đế đã tạo ra một tai hại vô cùng lớn lao cho cả dân tộc : sự phân chia,
ly tán trong lòng người cho tới ngày nay. Lương và giáo đang sống vui tươi
thì Minh Mạng lại khơi nguồn cho sự hận thù không đâu vào đâụ Thật là đau
buồn cho giới hủ nho vào thời bấy giờ mà Tự Ðư 'c là kẻ đại diện. Ðó là
thứ nho học từ chương của Tống triều, chứ không phải là cái học Vương Dương
Minh đã thịnh hành ở Nhật Bản. Nếu theo cái học của Vương Dương Minh thì
ta đã sớm thu thập được thứ Tây học như người Nhật, hay ít ra ta cũng hiểu
rõ cách đối đãi ngoại giao, lập cái thế cùng mở rộng nước đón tiếp giao
thương với tất cả các cường quốc như Xiêm đã làm để giữ được nền độc lập.
Ta đã tự tôn tự đại cho đến khi người Tây phương đến lấn áp thì cũng chịu
thua, dù có nhiều nho sĩ chân chính đã cố gắng chống đỡ. So với các quốc
gia như Ấn Ðộ, Nam Dương, Miến Ðiện, Mã Lai, Thái Lan, Nhật Bản,..., VN
cũng ở trong tình trạng tương tợ, nhưng các người lãnh đạo đất nước ta
đã không cương quyết đi theo một đường lối khôn ngoan, đánh ngoại xâm không
lại mà cứ chọc giận, gây thù thêm oán bằng những thủ đoạn lặt vặt và trẻ
con. Vì thiếu anh quân và gặp quá nhiều rủi ro, ta đã phải khổ nhục trong
gần một thế kỷ, và các anh hùng hào kiệt của ta vì lòng trung quân ái quốc
đã phải lăn xả vào súng đạn của ngoại nhân, chẳng qua vì lòng vị quốc vong
thân, nhưng sức người có hạn xông pha vào trước súng thần công đại bác
của Tây phương, chỉ như con thiêu thân nhảy vào ánh đèn để hủy thân mà
thôị Ðọc lịch sử để lấy ra bài học không phải là điều vô ích.
Các việc làm tốt đẹp của đạo Công giáo cho chính
đồng bào của ông vẫn không rọi một tia sáng nào trong tâm linh hủ nho của
Tự Ðức. Chẳng hạn như trong khoảng 1850-1851, một trận dịch đang lan tràn.
Các cơ quan và viên chức triều đình đều trốn kín trong nhà, nhưng các linh
mục và thừa sai đã điều động giáo dân đi giúp đỡ. Họ trãi qua những ngày
ở cạnh nạn nhân mà cha mẹ hay thân nhân đã bỏ vì sợ lây và vì biết rằng
không cứu được. Các người công giáo này đã đi lượm trẻ con và dùng nhà
họ đê ? cứu bịnh nhân. Tại Huế, bổn đạo đi đưa xác các kẻ xấu số với đầy
đủ nghi lễ mà không ai cản ngăn; lần này họ dám đem thánh giá ra đi đầu
đám tang. Trong khi đó, trận dịch tả năm 1850 đã làm chết nhiều người;
trong địa phận Hà Nội có tới 9,225 giáo hữu, 12 linh mục và 24 thầy qua
đờị Ngoài ra, dịch tả đã làm dân đói; họ chạy đến các nhà xứ, giáo hữu
đã chia xẻ gạo cơm cho những người mà trước đó đã đi tố cáo hay bắt bớ
họ. Chính nhờ sự chia xẻ này mà khoảng 400 người đã sống được trong nhiều
tháng qua sự nuôi dưỡng của dòng tu Vĩnh Trịnh của giám mục Retord. Tuy
nhiên, lòng nghi ngờ của Tự Ðức và các quan chung quanh ông quá cao; hễ
có dịp là "giận cá chém thớt".
5. Sắc dụ cấm đạo 30/3/1851:
Như
đã nhắc sơ ở trên, Hồng Bảo, con trưởng của vua Thiệu Trị, muốn chiếm lại
ngai vàng, dụ người công giáo rằng nếu đư ợc lên làm vua, ông sẽ cho tự
do tín ngưỡng. Giáo dân hỏi ý kiến các giám mục và những vị này đã khuyên
họ đừng dính dáng tới chính trị. Một tay chân của Hồng Bảo đến nhờ giám
mục Pellerin ở Huế giúp ông chống lại Tự Ðức nhưng Pellerin đã từ chối
(Launay : "Mgr. Retord"). Một bức thơ đề ngày 23/2/1851 in trong "Annales
de la Propagation de Foi" đã minh chứng rằng quả Pellerin không tán thành
việc tham gia chính trị truất ngôi vua.
Cuối 1/1851, nhân ngày Tết, Hồng Bảo sửa soạn
trốn sang Singapore tính cầu viện người Anh thì bị bắt. Ðáng lẽ Hồng Bảo
bị xử tử, nhưng Tự Ðức chỉ cho canh chừng mà thôị Sau nhiều lần tư . tử
thất bại, Hồng Bảo ôm đứa con 6 tuổI vào đại nội xin Tư . Ðức cho ông qua
Pháp sống đời thường dân. Nhà vua tin lời và cho ông 100 thoi bạc. Tuy
nhiên, theo lờI thuật của Pellerin, Hồng Bảo vẫn nuôi ý chí cướp ngôi.
Âm mưu bị đổ vỡ, những người đầu não bị xử tử. Tự Ðức đổi án lăng trì của
Hồng Bảo sang tù chung thân, nhưng ông ta đã tự tử. Xác của ông được bỏ
vào một cái hòm đơn sợ Tự Ðức truyền sau khi lấp mộ hãy liệng vài nắm đất
lên trên để làm sỉ nhục người quá cố. Người công giáo không dính dáng vào
chuyện này, nhưng họ lại bị cáo là có âm mưu tạo phản; thế là tai họa lại
đổ xuống.
Trong "Lịch sử Việt Nam" xuất bản vào 1956, ông
Phan Xuân Hoà lại đi viết :"Nhân dịp Tự Ðức mới làm vua được mấy tháng,
cũng theo chính sách của Minh Mạng hạ chiếu cấm sự truyền đạo. Những người
theo đạo bèn mưu dấy loạn, ủng hộ Hồng Bảo. Sau khi dẹp yên, Tự Ðức khép
án đồng đảng vớI Hồng Bảo tất cả những linh mục đạo Gia-Tô mà xử tử".
Do đó, một cuộc hội họp được diễn ra trong triều
đình của Tự Ðức. Kết quả là sắc dụ cấm đạo 3/1851. Theo Louvet ("La Cochinchine
Religieuse"), sắc dụ này như sau :
"Ðạo Gia-Tô là một đạo của Tâỵ Ðạo này cấm
thờ cúng tổ tiên và bụt thần. Ðể lừa bịp nhân tâm và mê hoặc tín đồ, đạo
thường năng nói đến Thiên Ðàng và nước Thánh. Nhưng ai đã rao giảng đạo
này vì biết luật nước không dung thứ những sự sai lầm như thế, nên mới
trình bày cho dân chúng hình ảnh của Gia-Tô chịu đóng đinh để xúi giục
ngườI ngu dốt sẵn lòng chết mà không bỏ đạo.
"Dưới đời Minh Mạng đã có nhiều sắc dụ cấm
rất ngặt đạo này, mỗi lần người công giáo không chịu bỏ đạo đều bị phạt.
Ðời Thiệu Trị, không một người công giáo nào được tha chỉ trừ những người
già cả ốm yếu.
"Các tiền nhân liệt thánh, phá hủy tà đạo tới
tận gốc rễ của nó, các đấng đã hoạt động cách chu đáo, nghiêm ngặt và khôn
ngoan. Vì các đấng đã trung thành giữ những lễ nghi, các đấng đã đi đến
một mức độ văn minh khá cao. Nền tảng của đạo chúng ta là ngay thẳng, đạo
của chúng ta sẽ bị nhiễm lây những điều xấu xa nếu cái đạo của bọn ngườI
độc ác như mọi và ăn ở như súc vật được đem thực hành. Lúc mà tâm hồn đã
hư hỏng nếu không kịp sửa chữa nó lại, nó sẽ không còn biết đâu là sự ngay
thẳng. "
Ta, Tự Ðức luôn luôn trung thành với nguyên
tắc mà ta đã đem ra thi hành ngay từ lúc ta mới lên ngôi, ta đã quan sát,
đã nghiên cứu những hành động, những phán đoán, những sắc lệnh của tạ Ta
đã ra chỉ thị cho các quan Thượng Thư cứu xét kiến nghị của cơ mật viện
xin cấm tà đạo Gia-Tô : Ðể làm sáng tỏ chính đạo, cần phải bắt và liệng
xuống sông tất cả các Tây Dương đạo trưởng, các đạo trưởng VN, dù chúng
nó có chà đạp hay khô ng chà đạp Thậ tự giá; phải chặt chúng ra làm hai
để cho hết mọi người đều biết sự nghiêm ngặt của luật nước chúng ta." Vì
thế, ta truyền cho các quan phải đưa sắc dụ này ra thi hành một cách cẩn
mật không cho dân sự biết tớị Từ rày về sau, nếu có những Tây Dương đạo
trưởng lẩn lút vào nước để quyến rủ dân sự; những ai phát giác hoặc bắt
đem nạp cho các quan, sẽ được trọng thưởng 8 lạng bạc và nửa gia tài của
kẻ nào đã chứa chúng nó, nữa phần còn lại sẽ bỏ vào quỹ chung.
Những kẻ nào đã oa trữ Tây Dương đạo trưởng,
bất luận nhỏ hay lớn, đã dấu trong một thời gian ngắn hay dài đều phải
bị chặt làm hai rồi đem liệng xuống sông. Chỉ trừ những trẻ con chưa đến
tuổi khôn lớn; chúng chỉ phải bị lưu đày mà thôi. Khâm thử"
6. Phi-líp Phan Văn Minh (1853)
:
Minh sinh tại Cái Mơn (Mỹ Tho) vào năm 1815. Ông theo Taberd trốn sang
Xiêm trong thời kỳ bắt đạo của Minh Mạng. Sau đó, ông đến Calcutta để giúp
Taberd hoàn thành cuốn tự điển Latin - Việt và Việt - Latin. Sau khi Taberd
mất vào năm 1840, Minh trở về Penang (Mã Lai) để tiếp tục học và ông đã
được giám mục Lefèbvre thụ phong linh mục vào 1846. Vào 1852, Minh được
cử coi sóc họ Cái Mơn. Bị đi cáo, Minh nghe lời khuyên của bề trên là Borelle
trốn đi Mạc-Bắc (Vĩnh Long). Một người bỏ đạo tố cáo hành tung của cha
Lựu -- cha sở họ Mặc Bắc --với Trấn Thủ Vĩnh Long. Vào 19/ 2/1853, Minh
bị lính vây bắt nơi ẩn trốn cùng với cha Lựu, ông trùm và nhiều ngườI khác.
Các quan trong tỉnh thấy Minh trẻ trung và thông minh nên đốiđãi lễ phép.
Họ cứ chiếu theo lệ bắt Minh chà đạp lên thánh giá dù rằng họ biết làm
như vậy chỉ vô ích. Các quan làm báo cáo về triều đình và chỉ kết án lưu
đày ông ra Bắc. Trong khi đó những người cùng bị bắt với ông chỉ bi roi
đòn rồi được thả. Tự Ðức không theo y án, đổi sang tội chết chiếu theo
sắc dụ 1851. Lúc Minh được dẫn tới pháp trường, lính đọc bản án cho dân
nghe : "Thầy Minh dạy dân theo tà đạo. Hoàng Ðế lên án trảm quyết và truyền
lệnh quăng đầu xuống sông." Vừa đọc xong, anh lính không cầm được nước
mắt vì anh là người Công giáo. Tại pháp trường , một lý trưởng tốt bụng
đã trải một chiếc chiếu cho Minh. Những người lương đứng chung quanh xúc
động khi nghe rõ lời cuối cùng của Minh :
"Lạy Chúa, xin thương xót đến con. Chúa
Giêsu hãy ban cho con sức mạnh và can đảm để con chịu khó vì sự vinh quang
của Chúa. Maria, hãy phù hộ con."
Có cảm tình với Minh, vị quan dặn một lý trưởng
hãy cho tiền lính để đem đầu Minh về họ Cái Nhum an táng thay vì phải bị
liệng xuống sông; còn ông Trùm họ Mạc Bắc chết rũ tù ngày 1/5/1854.
8. Cấm đạo ở Bình Ðịnh và
Huế (1853-1854) : Tại Bình
Ðịnh, quan Trấn Thủ ra lệnh cô lập công giáọ Chính ông đã đưa Tự Ðức vào
con đường cấm đạọ Ông chỉ thị :
- Một gia đình Công giáo, về ruộng đất chỉ có
quyền giữ 300m2 ; nếu có hơn nữa sẽ thuộc về làng.
- Công giáo không có quyền giao dịch thương mại
với anh em bên lương.
- Không có quyền sắm thuyền để buôn bán. Không
có quyền lên miền Thượng. Không được kết bạn với người lương.
- Một ông thầy được phái đến để dạy lễ nghi thờ
Phật, thờ ông bà. Họ phải chịu tiền để nuôi ông thầy.
Vào năm 1854 có 9 thầy giảng bị bắt. Vì không
bỏ đạo, họ phải lảnh án đày hoặc khổ sai chung thân. Công giáo ở Huế cũng
gặp khó khăn nhưng không ai bị tù hay bị xử tử.
9. Tình hình ngoài Bắc (1851-1855)
: Cho rằng giáo dân có dính
líu tới cuộc nổi loạn của Hồng Bảo, Tự Ðức cho ra sắc dụ 1851 trên. Ngày
1/3/1851, thừa sai Bonard bị bắt và bị xử tử. Thừa sai Schoeffer, 29 tuổi,
bị xử chém đầu vào 1/4/1851 ở Sơn Tây.
Trong khi Nguyễn Tri Phương làm khâm sai ở miền
Nam thì ngoài Bắc có Nguyễn Ðăng Giai, ông được Tự Ðức tin dùng và dân
yêu mến; Giai đã bênh vực cho người công giáo ở triều đình Huế. Từ khi
tới nhậm chức ở Bắc Việt, ông và giám mục Retord rất trọng nhau và giúp
nhau hoàn thành nhiều việc có lợi cho dân ngoài Bắc. Nhà thương cùi Vĩnh
Trịnh : Có nhiều người cùi ở Bắc Việt. Ðể săn sóc họ, giám mục Retord đã
lập một bịnh viện tại Vĩnh Trịnh, gồm 20 nhà tranh. Các người cùi được
hoàn toàn cấp dư ỡng về ăn và mặc. Lương hay công giáo đều được nhận. Retord
đã kêu đến Nguyễn Ðăng Giai để xin giúp đỡ. Giai âm thầm vận động với Tự
Ðức và nhận được một số tiền.
Hàn Lâm Viện : Retord nảy ý lập một hàn lâm viện
với mục đích trao đổi ý kiến với các nhà văn thời ấy. Ðây là một trường
đại học thô sơ với các môn nghiên cứu về Sử ký, Triết lý và Tôn giáo.
Nhà in : để bành trướng "hàn lâm viện", Retord
giao một thừa sai thiết lập một nhà in theo lối tổ chức của Âu châu. Nhờ
đó sách giáo lý được in ra.
10. Tự Ðức phân vân :
Sắc dụ cấm đạo 1851 đã ban ra, nhưng ai giết thì cứ giết, giảng đạo thì
cứ giảng. Kinh lược miền Bắc Nguyễn Ðăng Giai và kinh lược miền Nam là
Nguyễn Tri Phương đã không công bố sắc dụ cấm đạo 1851 (Schreiner : "Abrégé
de l'Histoire d'Annam"). Tự Ðức là một vị vua thông minh, nhưng cũng đành
chịu không thể diệt lòng tín ngưỡng của con người. Cực chẳng đã ông phải
xuống dò hỏi ý kiến của các quan để đối phó. Phương pháp của Trấn Thủ Bình
Ðịnh thì quá tồi. Có quan khác còn đề nghị dữ dội hơn như chặt đầu hết
các thừa sai, đánh đòn các linh muc VN, chọc tiết các thầy giảng và thầy
ở đại chủng viện, xử tử ai oa trữ họ, xử tử các lý trưởng không chịu tố
giác, xử tử các quan công giáo không chịu chối đạo, các quan chức sẽ bị
mất chức nếu bọn trên được tìm thấy trong khu vực, ai bắt được thừa sai
sẽ được thưởng 500 lạng hay linh mục VN, 100 lạng.
Nguyễn Văn Giai đã làm một tờ trình tấu với mục
đích xin vua Tự Ðức tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng đồng thời có những
lời lẽ ông không muốn làm Tự Ðức khó chịu. Dù tờ trình này có nhiều điểm
sai, nhưng chủ tâm của ông là làm cho Tự Ðức nhận sự thật và ngưng việc
bắt đạọ Tuy nhiên, tờ trình của ông không ngăn cản quyết tâm cấm đạo của
Tự Ðức.
11.Sắc dụ cấm đạo 15/9/1855:
Sắc dụ này nghiêm ngặt hơn trước. Theo "La Cochinchine Religieuse" của
Louvet :
"Các quan ở triều được hạn là một tháng,
các quan ở các tỉnh là 3 tháng để xuất giáọ Nếu chúng thú hết tội lỗi,
chúng sẽ được tha, bằng không, chúng sẽ mất hết cấp bực, sẽ trở nên một
tên bạch đinh, và sẽ phải bị trừng trị đúng theo pháp luật. "Dân chúng
và binh sĩ được 6 tháng để bỏ đạo. Nếu chúng tuân theo lề luật, chúng sẽ
được sống bình yên, nhưng nếu về sau chúng bất tuân không tế thần, chỉ
dầu là lòng chúng chưa dứt tà đạo, chúng phải bị trọng phạt. "
Trong những người chài lưới ở gần biển có
những kẻ ngu xuẩn, giả vờ đánh cá để rồi đưa Tây Dương đạo trưởng vào trong
nước. Các đạo trưởng này có những chiếc tàu buôn; thường, họ dùng những
chiếc tàu này để vào nước. Chúng đã dựng lên những nhà thờ ở những nơi
hẻo lánh, hoặc ẩn trong những hầm, cho người canh gác ở những ngả tư đường
trong làng, lúc có quan quân tới, lập tức đạo trưởng được tin và lanh lẹ
tìm đường tẩu thoát.
"Nhiều tên đã bị bắt quả tang đang lúc chúng
báo tin cho Tây Dươ ng đạo trưởng, vậy mà cũng còn có kẻ làm cái công việc
bẩn thỉu ấỵ Từ này về sau, bắt được những tên như thế, ta ra lệnh phải
đem xử nó... "Các Tây Dương đạo trưởng bị bắt sẽ phải chém đầu và đầu ấy
sẽ được bêu ở chỗ công cộng trong 3 ngày rồI giục xuống biển với xác...Những
học trò của các linh mục bản quốc đều phải bị xử chém. "Nếu có những chiếc
tàu của bọn mọi đến, các quan ở các hải cảng phải cho người canh phòng
và phải giữ đúng theo những lời chỉ dạy của Ðức Minh Mạng. Các ông Trấn
Thủ là mắt của dân, các ông chánh tổng và lý trưởng là đầu của dân. Ai
cũng thừa biết là bọn theo đạo Gia-Tô là bọn bất lương, côn đồ, thế mà
các quan cứ vô tư không lo lắng gì để dân phải lầm theo tà đạo. "Ta truyền
lệnh cho tất cả các quan lớn bé phải đi kinh lược trong địa hạt mình, xem
xét và dạy bọn ngu dân để chúng trở về đạo cao cả của Ðức Tiên Ðế. "Phải
đốt tất cả các nhà thờ, nhà xứ, hãy lấp các hầm các hang, cấm bọn giáo
hữu không được tập trung. Nói tắt một lơ `i là hãy dùng tất cả mọi phương
tiện để tiêu diệt tà đạo... "Như vậy ta hành động theo công bằng và nhân
đạọ Từ nay dân sẽ biết sợ và sẽ không còn dám oa trữ bọn côn đồ; sẽ không
còn có người dung thứ cho bọn có tội ấy nữạ..Chúng ta thấy ngu dân bỏ đàng
lạc quay về đàng chánh."
Sắc dụ này được tung ra như tiếng sét bên tai
và gây ra một trận giết đạo khác. Trước tình trạng này, vào khoảng 10/1856,
nhân có một chiếc tàu Pháp, La Capricieuse, đến Cửa Hàng, giám mục địa
phận Huế Pellerin trốn đến Cửa Hàn để gặp ông thuyền trưởng và đã cho ông
ta biết tình hình tại VN. Pellerin xin thuyền trưởng về Pháp trình bày
những nguyện vọng của giám mục với chính phủ Pháp (Louvet : "La Cochinchine
Religieuse).
Trong lúc đó ở Bắc Kỳ, một trận bắt đạo mới đang
tiến hành. Các quan được lệnh giam giữ các thừa sai; họ lập ra những chiến
dịch vây các làng có oa trữ các linh mục VN và ngoại quốc. Ðạo quân thường
chia ra làm 3 toán : 2 toán bao vây và toán còn lại đi lục soát. Vào 1857,
Trấn Thủ Ninh Bình bao vây Phát Diệm là nơi có 8,000 giáo dân, nhưng cha
xứ đã trốn thoát. Không bắt được cha xứ, họ lấy danh sách bổn đạo. Giám
mục Retord phải đổ tiền ra để chuộc lại cuốn sổ, nếu không thì sẽ có nhiều
ngườI chết. Trong cuộc bao vây làng Vĩnh Trịnh ngày 27/2/1857, Retord kịp
trốn xuống hầm, nhưng linh mục Lê Bảo Tịnh bị bắt. 5 ngày sau, 1000 quân
lính đem theo 2 con voi và 2 khẩu đại bác bao vây làng này một lần nữa.
Ðược
báo tin trước, Retord, Charbonnier và Vénard xuống thuyền chạy trốn; các
người trong chủng viện Vĩnh Trịnh của Retord cũng chạy kịp. Retord đã quen
biết viên tri huyện tại đây và chính ông ta xin nhận trọng trách cuộc càn
quét này, như thế ông sẽ có dịp để che chở cho người công giáọ Ông chỉ
phá hủy 11 căn nhà của ngườicông giáo và một phần của nhà tu. Lê Bảo Tịnh
bị giam và bị trảm quyết vào 6/4/1857. Lúc chém Tịnh lát thứ nhất, thanh
gươm của lý hình bị gẫy nên lý hình phải lấy một cái khác. Thấy vậy, quan
cho Tịnh bị chết oan và tối hôm đó ông đã đốt nhang xin vong linh Tịnh
nơi chín suối xá tội cho ông.
12. Sắc vụ cấm đạo 7/1857
: Nhận thấy sắc dụ trước chưa
đem lại kết quả mong ước, Tự Ðưc ra một sắc dụ khác hy vọng tiêu diệt công
giáo trên toàn quốc. Theo Louvet trong "La Cochinchine Religieuse", sắc
dụ 7/6/1857 như sau :
"Tà Ðạo Gia-Tô tràn tới nước Tàu dưới nhà Minh
do Lợi-Mã-Dậu (Ricci, môt linh mục dòng Tên hay Jesuit, tới Trung Hoa vào
1601; dòng Tên được sáng lập bởi một vị linh mục ngườI Tây Ban Nha vào
thế kỷ 15-16, ) rao giảng. Về sau, đạo ấy được truyền đến nước chúng ta
trong đời nhà Lê (Lê Trang Tôn; 1533). Ðạo có những tín đồ trong bọn dân
ngu làm nghề chài lưới ở ven bờ biển; bọn dân ngu vì đơn sơ vô học nên
đã bị giáo sĩ dùng tiền và dùng mưu để đánh lừa. Giáo sĩ đã mua những khu
đất để cất vựa lúa, dựng nhà thờ làm việc thờ phượng và rao giảng tà đạo.
Dân chúng mù quáng nghe lời dụ dỗ của chúng. Dần hồi lý thuyết tà đạo tràn
ngập toàn quốc và hiện giờ ước chừng 4/10 dân chúng của ta phải tiêm nhiễm
tà đạo ấy (Tự Ðức nói sai; vào thời ấy 1/50 theo đạo mà thôi; theo Louvet).
Ðạo này có nhiều tín đồ ở giữa các quan và binh sĩ. Nếu chúng ta không
thận trọng thì cái bệnh dịch này sẽ tràn khắp trong nuớc.... (Sau khi đã
nhắc lại những cố gắng mà Tự Ðức và các tiên đế đã dùng để tiêu diệt đạo
này, ông trách nặng lời các quan đã nhận tiền hối lộ để dung thứ công giáo).
"Còn về những thường dân giáo hữu, các ông
lý trưởng trong làng phải lo lắng đến việc làm cho họ theo chính đạo bằng
cách bắt buộc họ giữ những lễ nghi về hôn phối và đám tang. Phải ép các
người công giáo thờ cúng tổ tiên và các thần của mỗi làng. Trong một năm,
tất cả bọn người này phải xuất giáo, qua thời hạn ấy, những người công
giáo đã về lại chính đạo sẽ được sống yên ổn, những tên mù quáng theo tà
đạo phải bị khắc vào má hai chữ Tả-Ðạo và tên làng của chúng. "Ðối với
những kẻ cứng đầu chúng ta sẽ cố gắng đối vớI họ thêm một năm; sau năm
ấy, những đứa bất tuân kỷ luật, nếu là đàn ông chúng ta phải bị trừng trị;
nếu là đàn bà, phải đi làm tôi tớ các quan. Những ông lý trưởng làm chu
toàn phận sự của mình và đã cố gắng đưa bọn ngu ngốc ấy về đàng chính sẽ
được trọng th+ởng; trái lại, những ông lý trưởng chê ?n mảng sẽ phải mất
chức."
Sắc dụ này nhằm chỉ tiêu diệt đạo trong thường
dân, nhưng sắc dụ năm 1859 còn ghê gớm hơn hiều nhằm triệt tiêu hàng giáo
phâ ?m, là những người sát cánh với giáo dân giúp họ giữ niềm tin.
13. Các giám mục Diaz, Garcia
và Nguyễn Ðình Hưng : Theo
Louvet ("La Cochinchine Religieuse"), khi được phái đến các địa phận Trung
Bắc Việt (Bùi Chu và Thái Bình), giám mục José Diaz Saujugo An (An : tên
Việt Nam của Diaz) là một giáo sĩ trẻ tuổi dòng Ða-Minh (Dominican; sáng
lập bởi mộ.t linh mục ngườI Tây Ban Nha vào thế kỷ 13), quốc tịch Tây Ban
Nha (I-pha-nho; Spain). Ông đến để thay cho đức cha Marti vừa tạ thế (1852).
Diaz có quen với Trấn Thủ Nam Ðịnh Nguyễn Ðình Tân (có lần ở Huế, Tân được
linh mục Lê Bảo Tịnh chửa trị lành bịnh mắt). Tân sẽ báo cho Diaz biết
nếu có chuyện nguy hiểm xảy ra. Trong khi Diaz dang trốn tại Bùi Chu, thì
vào 28/4/1857, một ngườI đàn bà đã tới tỉnh đường để báo cáo. Tân đã biết
nhưng giả bộ làm ngơ. Nào ngờ một vị thượng quan ở Huế đi kinh lý ghé qua,
Tân đành thụ lý, nhưng báo cho Diaz để ông trốn đi. Người đưa tin đã quá
chậm. Diaz bị cột vào một cây trước sân của đình làng. Thấy giáo dân khóc
nhìn cảnh ông bị trói, Diaz khuyên họ hãy yên tâm mà về nhà. Diaz được
thuyền đưa đến Nam Ðịnh và bị giam nghiêm ngặt. Trong 2 tháng bị giam và
bị tra tấn, Diaz còn dám giảng giải đạo lý ở chốn công trường cho các quan;
họ vừa giận vừa khâm phục Diaz. Ngày 20/7/1857, lính điệu ông ra pháp trường;
Diaz vẫn bình tĩnh cầu nguyện. Nghe tiếng chiêng báo hiệu, lý hình vung
gươm chém mạnh, đầu ông rơi xuống dất, máu vọt lên cao như hình cầu vòng...
Quan truyền bỏ đầu Diaz vào sọt và quăng xuống sông Cái. Sau đó, có thuyền
chài vớt được đầu Diaz và giao cho bổn đạo; người này chuyển lại cho giám
mục phó Garcia. Theo Marcos Gispert ("Historia de las Misiones Dominicanas),
sau Diaz là tới giám mục phó Melchor Garcia Sampedro Xuyên (Xuyên : tên
Việt của Garcia). Garcia bị bắt với 2 thầy giảng khác tại Bẩy Mẫu, Nam
Ðịnh. Tới lượt xử Garcia, đao phủ bắt ông nằm ngửa ra, kéo tay chân căng
ra 4 cọc đóng sẳn 4 góc. Ðao phủ thứ nhất chặt đầu gối chân của Garcia;
đao phủ thứ hai chặt đầu gối tay; Garcia đau đớn... Ðầu của Garcia được
đem treo ở Cửa Nam thành Nam Ðịnh. Nguyễn Ðình Hưng có lần theo phái đoàn
của Phan Thanh Giản sang Pháp vào 1839. Hưng nổi tiếng cho quân liên tiếp
bắt vây và đốt phá các làng có đạo và giải về Nam Ðịnh. Ông bắt những người
chối đạo phải đánh những người không chịu chối. Xong, ông còn bắt họ phải
đốt hương thờ lại Phật, không tin vào Giêsu, làm tờ khai bỏ đạo, trước
khi được tự do, những người bỏ đạo này phải mang gông làm việc đủ trong
3 tháng. Theo Ravier ("Sử ký Hội Thánh"), giết kẻ có đạo chưa đủ, Hưng
đã nói xạo như sau :
"- những người bản xứ của ta, sao lại dại
dột đến nỗi theo lề thói đạo tây dạy mà bỏ lễ phép của tổ tông truyền ?
Trong bọn bây nào có ai đã xem phương Tây ? Phần ta khi còn trẻ sang buôn
bán bên ấy, thế thì ta nói thật : Trong cả phương Tây, chỉ có 17 làng to
mà thôi, còn bao nhiêu là những làng bần cùng mọi rợ. Quân nước nó chẳng
bằng một tỉnh Nam Ðịnh này đâu. Vậy còn trông nó cứu chúng bây như thế
nào được ? Nó hèn sức dường ấy cho nên dù nó có mang tàu chiến đến cửa
nước ta thì ta đem những trò hát hỏng diễn ra trước mắt nó cũng đươ .c,
chẳng sợ đâụ Còn những đạo trưởng, đạo đồ, kẻ thì đã bị xử, kẻ thì bị lưu
đày mà Chúa nó chẳng cứu nó được. Thế thì chúng bây còn trông cậy thứ ấy
làm sao được ? Vả lại trong cả miền Bắc này, trong 10 người có một kẻ có
đạo là cùng mà muốn làm ngụy làm sao được ? Ðức hoàng đế mở miê .ng phán
một lời, chúng bây đều phải ra tro bụi như sét đánh vậy."
14. Trận lụt 1857
: Trong lúc quan quân đang hăm hở bắt đạo thì một trận lụt lớn đã làm ngưng
việc bắt đạọ Trận lụt này đã làm vỡ hết các con đê, nước sông tràn ngập
và đồng bằng Bắc Việt đã hóa thành biển. Dấu vết của làng mạc chỉ còn là
những ngọn tre xanh rì, những nóc nhà tả tơi. Tiếp theo trận lụt là một
trận bãọ Theo Ravier trong "Sử ký Hội Thánh" thì nước ngập trong 5-6 tỉnh
kéo dài tới 2 tháng. Muà màng đều hư hỏng, lúa trữ trong kho không còn
dùng được vì bị ẩm. Dân chúng đói khát, có người phải chôn sống con vì
không muốn thấy cảnh hấp hối đau lòng. Ðêm đến người ta phải canh phòng
vì sợ bị cướp lương thực.
15. Chiến tranh Việt - Pháp
(1858-1862)
15.1 Lý do cuộc chiến tranh
giữa VN là liên minh Pháp - Tây Ban Nha : Nhiều sử gia tiếc
rằng VN đã làm mất nhiều cơ hội để giảng hòa với Pháp, nhưng thực ra việc
Pháp thôn tính VN là chuyện không tránh khỏi. Có ngoại giao hay không thì
chưa hẵn là một biện pháp hay; việc ta có chịu học lấy cái hay của xứ người
để canh tân đất nước, dùng nó để dân được tự do, ấm no và bảo vê . quyền
tự chủ vẫn là chuyện chính. Còn về việc cấm đạo ? Nó cũng không phải là
một lý do mà chỉ là một cơ hội, môt cái cớ mà người Pháp công khai vịn
vào một cách dễ dàng để chiếm VN (theo Launay : "Mgr. Retord"). Ðiều này
có nghĩa là có bắt đạo hay không rồi cũng đi đến chỗ xung đột với nhau
vì quyền lợi. Như đã bàn ở trên, từ thế kỷ 16, Âu châu xâm lăng lại Á châụ
Họ chiếm đất đai ở Phi châu và Mỹ châụ Bồ Ðào Nha (Portugal), Hòa Lan (The
Netherlands), Tây Ban Nha (Spain) tranh giành nhau ở vùng Viễn Ðông (The
Far-Eastern Asia). Rồi Anh phổng tay trên của Pháp lấy ...n Ðộ cho tới
sau 1945 mới nhả ra. Qua hiệp ước Nam Kinh (1842), Anh chiếm Hồng Kông
và mở 5 cảng. Qua hiệp ước Hoàng Phố (1844), Pháp cũng nhận được mốI lợi
tương tợ và còn đư ợc hứa cho tự do truyền đạo. Genouilli có đến VN lần
đầu vào 1847 với ý định được buôn bán với Thiệu Trị; một trận xung đột
đã xảy ra và Genouilli bỏ đi. Vào năm 1818, nhân danh vua Louis 18, De
Kergariou đi chiếc La Cybèle đến yêu cầu Gia Long nhường cho Pháp Cửa Hàn
và Côn Sơn theo hiệp ước 1787 chết yểu. Tưởng cũng nên nhắc lại, bị quân
Tây Sơn đánh đuổi, Nguyễn Ánh trốn về Hà Tiên. Lúc đó, giám mục Bá-Ða-Lộc
(Pierre Pigneau de Béhaine hay giám mục d'Adran; tên Việt của ông là Bá-Ða-Lộc
vì người đương thời phiên âm ra tiếng quan thoại như sau : tiếng Pháp là
Pierre, nhưng tiếng Bồ Ðào Nha là Pedro mà người Tàu ở Hà Tiên gọi là Pê-Tô-Lô
và người Việt đọc ra âm Bá-Ða-Lộc), một nhân viên phái bộ truyền giáo nước
ngoài, được tỉnh trưởng gốc Tàu là Mạc Thiên Tứ cho trú ngụ ở Hà Tiên cùng
với vớI một tu viện của ông. Nguyễn Ánh về đây ẩn náo và được Bá-Ða-Lộc
và giáo dân che dấu khi bị quân Tây Sơn ruồng bắt. Bá-Ða-Lộc khuyên Ánh
nên cầu viện vua Louis 16. Sau đó, Bá-Ða-Lộc, hoàng tử Cảnh (con cả của
Nguyễn Ánh) và một phái bộ của Ánh sang Pháp xin nước này giúp Nguyễn Ánh
khôi phục lại đất nước. Một hiệp ước được ký vào 28/11/1787, nhưng nó vô
hiệu ngay vì lúc đó chế độ quân chủ của Pháp đang nghiêng ngữa và kiệt
quê . vì cuộc chiến bên Châu Mỹ. Không đủ sức dự vào một cuộc chiến quá
xa xôi khác, Bá Tước De Conway, Toàn quyền vùng thuộc Pháp, không chịu
thi hành hiệp ước. Bá-Ða-Lộc quay sang kêu gọi sự giúp đỡ của các người
Pháp ở Ile-de-France và Pondichery (Ấn Ðộ). Ông đã đem đến cho Ánh, lúc
đó đã lấy lại được Nam Kỳ, 2 chiếc tàu đầy khí giới và đạn dược, và nhiều
quân chí nguyện; nổi tiếng trong số đó là Olivier, Chaigneau, Vannier,
Dayot và Forsans. Nhóm người này đã giúp Nguyễn Ánh huấn luyện một phần
quân đội theo phương pháp Âu châu, lâ .p một đội pháo binh và thủy quân
hiện đạị Do đó, khi De Kergariou đến, Gia Long từ chối tiếp kiến vì các
người theo Bá- Ða-Lộc giúp Gia Long khi trước là do họ tình nguyện và theo
lời yêu cầu của Bá-Ða-Lộc, chớ không phải vì hiệp ước mà đến. Nếu Pháp
lấy cớ là họ can thiệp để bênh vực những đồng hư ơng bị chém giết thì sao
? Chính những tình trạng tàn sát và bắt đạo được báo chí Tây phương đăng
tải đã làm người Âu náo động, nhao nhao lên tiếng, đòi phải đem quân lực
sang đối phó thẳng tay với VN. Lấy cớ đó, Pháp can thiệp. Sự can thiê .p
này thật ra có lợi cho Pháp, nhưng lại là điều không may cho người Việt
công giáọ Từ 1825, giữa VN và Pháp không có sự liên lạc nào khác hơn là
những cuộc viếng thăm của các tàu chiến vừa xin giao thương vừa nhắc nhở
triều đình ta đừng giết hại các người truyền đạo. Sự can thiệp đã đổ dầu
vào lửa. Quả đúng như vậy, các lời "nhắn nhủ" kia chỉ càng làm gia tăng
việc bắt đạo.
Vào tháng 11/1855, theo lệnh của Napoleon III,
Ðặc ủy Charles de Montigny sang Ðông Nam Á tìm đủ cách để thiết lập các
cơ sở chính trị và thương mại cho Pháp. Tháng 1/1856, Montigny sang Thái
Lan ký hiệp ước và được Xiêm cho tự do buôn bán, giảng đạo, nghiên cứu
khoa học, đặt đại diện ngoại giao và mua bất động sản. Kế đó Montigny sang
Miên vào tháng 10/1856 thương thuyết về vấn đề truyền giáo, nhưng Xiêm
ngăn cản vì nước này vẫn muô 'n độc quyền ảnh hưởng về chính trị đối vớI
Miên. Vua Miên Nặc Ông Tôn có gởi thư cho Napoleon III xin Pháp che chở.
Như thế tại Miên, Montigny chưa thâu lượm được gì. Cũng cùng năm 1856,
chiếc La Capricieuse đến Cửa Hàn và mờI giám mục Pellerin lên tàu để hỏi
thăm tình hình và xin tiếp kiến Tự Ðức. Không có kết quả, tàu bỏ đi. Ði
trước Montigny một bước, ngày 17/9/1856, Leheur de Ville-sur-Arc đi tàu
Catinat đến Tourane (Ðà Nẳng) để đệ thư của Ðặc ủy Montigny mà vài ngày
nữa sẽ có mặt. Quan ta tiếp thư và bảo Leheur chờ hồi âm; tuy nhiên quan
coi thư xong thì đem trả lại để trên bãi biển. Leheur cho rằng VN làm như
vậy là nhục mạ và có ý tuyên chiến. Thấy quân ta có hoạt động khác thường
trong thành, Leheur cho đổ bộ 50 lính và bắn vài phát đại bác vào đô `n;
thành Ðà Nẳng bị hạ và 40 lính Việt bị bắt. Hôm sau quan ta trở lại điều
đình thì Leheur bảo phải đợi Montigny vì ông ta không có thẩm quyền. Nhưng
Montigny không ghé Ðà Nẳng mà đi thă ?ng qua Hồng Kông. Tới ngày 23/1/1857,
Montigny trở lại và bàn với quan ta là xin được tự do buôn bán, đặt lãnh
sự ở Huế, đặt một thương điếm (hãng buôn) ở Ðà Nẳng và cho tự do truyền
giáọ Tất cả yêu cầu đều bị từ chốị Chờ 2 tháng không thâ 'y kết quả gì,
trước khi rút lui, Montigny trao một văn kiện cho Tự Ðức cho biết ông sẽ
đệ trình lên vua Napoleon III rằng vua VN đã khước từ ký kết với Pháp một
hiệp ước dựa trên những căn bản và hình thức được các nước văn minh công
nhận và nê 'u VN còn giết đạo và ngược đãi người Pháp, nếu Pháp phải trừng
phạt thì đó là lỗi của triều đình VN. Ðược thư này vào 7/1857, Tự Ðức nổi
sùng và hạ thêm một sắc dụ ghê gớm hơn trước để cấm đạo công giáo, và cho
lệnh viết ở nơi công cộng : "Bọn Pháp sủa như chó và chạy trốn như dê"
(Louvet : "La Cochinchine Religieuse"). Theo Việt Sử Toàn Thư, do kết quả
của các việc lôi thôi trên, Tự Ðức quay sang bắt đạo càng khốc liệt hơn.
Khắp nơi trong nước chỗ nào cũng có như ~ng vụ giết giáo dân, đốt nhà và
các giáo đường. Tự Ðức chẳng những giết các giáo sĩ người Pháp mà còn giết
những người Tây Ban Nha như các giám mục Henares Delgado, Hermosilla, Diaz
và Garcia, các linh mục như Fernandez, Gil de Fédérich, Almato, Matheo
Licianus, Henri Castanedạ Do đó, Tây Ban Nha trở thành kẻ đô `ng minh của
Pháp xâm lăng VN. Tuy nhiên Tây Ban Nha chỉ có ý định là dạy cho VN một
bài học là đừng giết những người đồng hư ơng của họ mà thôi, còn Pháp thì
có dã tâm bỉ ổi là chiếm VN làm thuộc địa (Morey : "Mgr. Theural"). Ðứng
trước tình thế này, nếu Tự Ðức thực sự nghĩ tới quốc gia và dân tộc, lương
hay giáo cũng là dân của ông, chỉ cần lên tiếng bỏ hết tị hiềm do cấm đạo,
kêu gọi sự đồng lòng, đoàn kết, trên dưới như một bảo vệ giang sơn của
nhà Nguyễn, thì làm gì cho có cảnh chinh chiến, nước mất nhà tan. Nhưng
làm một việc như thế mà Tự Ðức - được các sử gia coi như một minh quân
-- không làm nổị Từ năm 1820 cho đến 1883, dưới các đời Minh Mạng, Thiệu
Trị và Tự Ðức, các vị vua này đã giết cả thảy 40,000 người Việt công giáo;
từ 1885-1886, chỉ trong một năm thôi, dưới phong trào Văn Thân, có tới
60,000 ngươ `i Việt công giáo bị giết. Bây giờ ta hãy xem sự giết hại đô
`ng bào này cũng như các nhà truyền giáo diễn ra như thế nào trong bối
cảnh Pháp xâm lăng Việt Nam.
Cuốn sách "Ðạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân
Tại VN" của Cao Huy Thuần, tuy chứa khá nhiều suy luận sai lầm , nhưng
ta cũng nên nêu ra đây vài tài liệu (nhất là các thư từ) để rộng đường
đoán xét. Theo Thuần thì lúc đầu Napoleon III không có kế hoạch thực dân
nào rõ rệt cho đến khi vài vị giáo sĩ và nhất là người vợ đã thuyết phục
ông can thiệp vào VN. Thuần có nêu lên 2 vị thừa sai nằm trong cuộc vận
động này. Ðó là linh mục Huc, hội viên hội Thánh Lazare, cựu đại diện Giáo
Hoàng ở Trung quốc, và giám mục Pellerin (Cao Huy Thuần cho ông là đại
diện của Giáo Hoàng ở Bắc Việt). Huc cho Napoleon III biết rằng Anh đang
dòm ngó Ðà Nẳng, Nam Kỳ là vùng đất màu mỡ, dân chúng hiền hoà, cần mẫn,
dễ truyền đạo; nếu chiếm đóng xứ này thì dân, đang rên xiết dưới chê '
độ tàn bạo, sẽ tiếp đón Pháp như những ngườI giải phóng và ân nhân. Dựa
trên tài liệu của Thuần, ta thấy khác với Huc, Pellerin quan tâm nhiều
hơn về sự sống còn của giáo hội VN. Trong một bức thơ gởi cho giám mục
Thomine Desmazures ("Thư khố Phái bộ Truyền giáo Nước ngoài") đề ngày 30/7/1958,
Pellerin viết : "Nhà vua đã tiếp tôi rất niềm nỡ dù tôi không xin gặp.
Hoàng Thượng hết sức sẵn lòng giúp đỡ các phái bộ và ý ngài muốn rằng các
nhà truyền giáo Pháp phải được tự do khắp nơi, cần phải cầu nguyện Thượng
Ðế giữ lại người của Chúa ở lại trên ngôị Các phái bộ của Ngài, các phái
bộ ở Cao Ly, ở Nhật Bản, cũng sắp được tự do nay mai, phải hy vọng điều
đó. Nước Pháp sẽ ở vững vàng tại các xứ đó và rồi sẽ không thể còn các
vụ đàn áp nữa."
Nhân dịp này, giám mục Pellerin nhắc lại cho Napoleon
III về bức thư đề ngày 30/8/1857 của ông (trong "Thư Khố Bộ Ngoại giao,
tập 27) :
"Thần xin Ngài cho phép thần lại nói đến các
người mới theo đạo khốn khổ ở xứ Nam Kỳ và các nhà truyền giáo VN, hiện
giờ máu họ đang đổ và tình cảm họ còn kinh khủng hơn từ cuộc vận động sau
chót của nước Pháp không làm lợi gì cho bọn thần; e rằng đạo Thiên Chúa
bị tận diệt ở tại các vùng hình như sẵn sàng tiếp đón lợi ích của đạo Thiên
Chúa và văn minh. Thần đến xin Chúa thượng đừng bỏ rơi bọn thần, việc đó
sẽ khiến cho ân phúc của Chúa ban xuống cho bệ hạ và triều đại huy hoàng
của bệ hạ..."
Theo Cao Huy Thuần thì cả 2 cuộc vận động này
nhằm "nhân danh các người truyền giáo tại VN, không phải chỉ là một cuộc
biểu dương hay chiếm ngụ tạm thời, mà là một cuộc viễn chinh thực dân".
Trong đoạn này Thuần dựa vào vai vế của Huc và Pellerin để nhấn mạnh rằng
việc Pellerin ra đi là "nhân danh các người truyền giáo tại VN". Nói cách
khác, Thuần đã ngầm muốn nói là toàn thể các thừa sai và linh mục VN muốn
Pháp can thiệp. Ta thấy rằng ý kiến của Huc thì quá rõ, nhưng với Pellerin,
ta thấy ông khẩn cầu và van xin làm sao để giáo hội VN được tồn tại, mong
có vị vua bênh đỡ cho công giáo được sống còn. Như ta thấy, ở các quốc
gia khác thì lúc đầu họ cấm đạo như Nhật, Trung Hoa hay Thái Lan, nhưng
sau đó thì có sự dễ dàng. Ðối với VN, tình hình này không thay đổi vì tinh
thần hủ nho, bảo thủ và nghi ngờ quá mạnh ở các vị vua nhà Nguyễn. Chính
họ đã chịu trách nhiệm phần lớn cho tình trạng đất nước của ta ngày nay.
Theo Thuần, một vị linh mục truyền giáo khác tên Legrand de la Liraye đã
trình bày cho Napoleon III phương sách có tính cách chính trị. Thái độ
này của Legrand đã làm phiền lòng các vị thừa sai khác rất nhiều vì họ
chống lại việc xen vào chính trị. Theo Legrand, VN có một vị trí chiến
lược tạo một chướng ngại vật giữa Anh (chiếm ...n Ðộ, Singapore, đang thắt
chặt Trung Hoa), Tây Ban Nha (chiếm Philippines), Hoà Lan (chiếm Java và
Sumatra). VN cũng là nơi trú ẩn cho tàu bè phiêu bạt khắp vùng Ðông Nam
Á; sau cùng VN là nơi tiếp liệu và buôn bán cho người Pháp ở quá xa tổ
quốc. Về mặt kinh tế, Legrand nhận xét rằng VN rất xứng đáng là một thuộc
địa vì đất đai giàu có hơn cả Philippines, Java và Bornéo; dân chúng "ôn
hòa, thông minh và siêng năng".
Về lợi thế của việc xâm lăng thì Legrand nghĩ
rằng VN dễ rơi vào tay người Pháp vì dân chúng còn trung thành với nhà
Lê; triều đình hiện nay tàn bạo, bất công, đầy tham nhũng khiến cho dân
nổi loạn; quân đội thì bất lực trước khí thế của Trung Hoa; dân Nam Kỳ
thì còn mang mối thù vong quốc như dân Chiêm bị đưa về tình trạng bộ lạc
sống nhục nhã trong tỉnh Bình Thuận, và người Miên phải nhường cho kẻ chiến
thắng mọi cửa sông, vùng phù sa mênh mông; vua thì không có con nối dõi
sau 10 năm kết hôn, "sống hoan lạc giữa 5000 cung nữ"; quan lại thì bậy
bạ, tham lam, ă n của đút và gian ác; thủy quân thì đã bị hủy diệt từ trận
thủy chiến 1847; quân trên bộ thì thiếu tổ chức và ít khí giới; quân đội
chỉ có từ 60 tới 70 ngàn người nhưng đóng rãi rác.
Về kế hoạch xâm lăng thì Legrand đề nghị bằng
một cuộc can thiệp bằng ngoại giao trước và chỉ dùng vũ lực nếu phương
cách trên thất bại. Cũng theo Thuần thì tài liệu (tìm thấy ở Aix-En-Provence,
trong thư khố Trung ương Ðông phương) về Legrand không được các sử gia
biết đến có lẽ vì cuộc vận động của Legrand quá trễ : 11/ 1857, Napoleon
III đã ra lệnh can thiệp vào VN bằng vũ lực. Sau này, khi qua VN, dưới
thời Dupré, Legrand lại đề nghị bảo tồn chữ Nho song hành với việc phát
huy chữ quốc ngữ (1872). Giám mục Pellerin sang Pháp (1858) : Trở lại với
Pellerin. Nhận thấy giáo hội công giáo VN sắp lâm nguy, Pellerin sang Pháp
cầu cứu và nhờ Pháp can thiệp bằng vũ lực, tưởng rằng nhờ sự che chở đó
mà người công giáo ở VN sẽ đươc yên. Vài sử gia (Louvet : "La Cochinchine
Religieuse"; Trần Trọng Kim : "Việt Nam Sử Lược") quả quyết Pellerin đã
tâu với Napoleon III rằng :"Nếu Pháp đến chiếm cứ VN, người công giáo sẽ
đón tiếp họ như những vị cứu tinh. Họ sẽ hợp tác với ngư ời Pháp để cuộc
chiếm cứ được tiến hành một cách mau lẹ." Nếu nói như thế thì Pellerin
quả đã lầm tọ Theo Louvet, người công giáo Việt lúc ấy nếu được vua yêu
cầu thì họ sẽ đứng lên cầm khí giới, như trường hợp của ông đội Phan-xi-cô
Phan Văn Trung. Lúc Pháp lấy Cửa Hàn (1/9/1858), sợ Pháp chiếm kinh đô
Huế, Tự Ðức "ân xá" cho các tù phạm và yêu cầu họ đến cứu Cửa Hàn để "lập
công". Ðã tới nước này rồi mà Tự Ðức còn bày trò bắt họ bước qua cây Thánh
giá. Tất cả đều tuân theo chỉ trừ Trung. Quan hỏi Trung :
- Mày công giáo phải không ?
- Phải, tôi là công giáo, tôi sẵn sàng đi
đánh quân địch của nước nhà, nhưng bỏ đạo thì tôi không bao giờ bỏ.
Trung bị dẫn về tù 3 lần, mỗi lần lãnh 50 roi.
Cuối cùng vì không chịu chối đạo, Trung bị án trảm quyết. Ngày 16/10/1858,
trong khi Trung được dẫn tới chợ An Hòa để xử thì có lệnh chờ vì có tin
là 2 quan trong triều đang xin tội cho ông. Tới 8 giờ tối, tin cho biết
là vua y lệnh chém đầu Trung và còn phạt 2 quan xin ân xá cho ông. Tới
giờ hành hình, Trung yêu cầu lý hình lấy vôi gạch môt hình thánh giá lên
cổ để tỏ cho mọi người biết ông là công giáo tới cùng. Xong ông nghiêng
mình cho lý hình chém. (Roux : "Vestiges Religieux et Profanes du Vieux
Hue").
Theo Louvet, việc cầu cứu của Pellerin không đem
lợi ích gì mà còn gây tai hại vô cùng cho người công giáo VN. Giám mục
Navarette trong cuốn "Lịch Sử Trung Hoa" đã nghiêm khắc nói :"Những
ai cầu cứu tới sự che chở của quân đội Âu châu tưởng rằng quân đội đó chỉ
biết giúp đỡ và bảo vệ họ, nhưng nên nhớ rằng quân đội làm việc tồi bại
trong một ngày thì phải có 20 vị thư `a sai giảng dạy trong một năm mới
sửa chữa được tai hại về đường luân lý mà họ đã gây nên."
Việc Pellerin sang Pháp cầu cứu đã một lần nữa
tạo cớ cho bao sử gia xem thường lòng hy sinh truyền giáo của các thừa
sai khác. Trong "Việt Nam Tranh Ðấu Sử", ông Phạm Văn Sơn đã phê bình :
"Các giáo sĩ ngoại quốc nào có phải là những
người truyền giáo không thôi đâu, họ dò xét tình hình nước họ đến giảng
đạo rồi báo cáo cho chính phủ họ biết để dùng vũ lực đến xâm lược. "Thí
dụ giám mục Pellerin sau khi trốn khỏi Ðà Nẳng xuống tàu về Pháp đã tỏ
bày tình thế nước VN cho 2 chính phủ Pháp và Tây Ban Nha biết và yêu cầu
chính phủ đó đem quân sang chiếm nước ta."
Phạm Văn Sơn đã quơ đủa cả nắm vì đa số các vị
thừa sai đã truyền giáo một cách vô tư và chịu nhiều cái chết tàn nhẫn,
không hề nhắc tới việc xin quốc gia của họ đến tiếp cứụ Mặt khác, nếu triều
đình không giết hại người công giáo liên tục như thế thì làm gì giám mục
Pellerin lại đi kêu cứu với Pháp; đó là hiện tượng nước đã tràn ly. Mục
đích của chuyê 'n đi này cho thấy ông không còn chịu đựng được nữa sự tàn
ác của triều đình Huế đối với dân của họ. Ðó là bước đi tuyệt vọng của
Pellerin khi thấy giáo hội VN, được vun xới qua bao trăm năm, sắp sửa bị
tiêu diệt.
Ðứng trên quan điểm dân tộc, ta thấy Pellerin
đã xen vào chính trị của VN và có quyết định sai lầm, có hại cho người
Việt cô ng giáo, nhất là trong thời buổi vua ghét đạo như thế nàỵ Tuy nhiên
trên phuơng diện khác, thì ông quả là người có tình nghĩa, nghĩ nhiều đến
giáo hội Công giáo Việt Nam sắp sửa bị diệt vong. Rigaud de Genouilli và
thành Ðà Nẵng : Một mặt, Napoleon III tỏ ra là người che chỡ cho việc truyền
giáo sang Á đông; nghe báo cáo rằng công giáo VN đang bị áp bức, nhất là
sau vụ giám mục Diaz bị chém vào ngày 20/7/1857 nên ông đã ra lệnh cho
Pháp can thiệp; nhưng ở mặt khác, ông đã có kế hoạch muốn xâm chiếm VN
và sứ mệnh của Genouilli rõ ràng đã mở đầu cho thời kỳ thuộc địa ở nước
tạ Napoleon III ra lệnh cho lập một đoàn quân viễn chinh hỗn hợp Pháp +
Tây Ban Nha gồm 14 chiến thuyền và một tàu Tây Ban Nha do Trung tướng Rigault
de Genouilli (chỉ huy căn cứ hải quân Pháp vùng Viễn Ðông) và Ðại tá Tây
Ban Nha Lazarote chỉ huy đến đánh Ðà Nẳng vào 7/1858 với quân số 3,000
người. Theo Ðào Ðăng Vỹ (trong "Nguyễn Tri Phương"), ở Cửa Hàn, quân Pháp
thấy VN có đại bác tối tân hơn Trung Hoa, súng ống toàn là hiệu của Pháp
hoặc Bỉ, thuốc đạn của Anh. VN chống giữ có qui cũ. Thay vì đánh thốc ra
Huế, Genouilli chỉ đánh Cửa Hàn, Ðà Nẳng. Ông biết là nơi đây có nhiều
đồn lũy phòng ngự, một số đồn đã xây dựng cho Gia Long bởi giám mục Bá-Ða-Lộc
và sĩ quan hải quân Olivier de Puymanel, nhưng ngày nay chúng vẫn còn tốt.
Theo Thomazi ("La Conquête de l'Indochine") thì Genouilli đã khen rằng
:"Những đồn lũy này còn tốt hơn tất cả đồn lũy ta đã thấy ở Trung Quốc
rất nhiều." Trong thành, các đại bác cỡ lớn và cỡ trung đều trang bị những
bộ phận điều chỉnh tối tân. Cũng theo Ðào Ðăng Vỹ, khi xưa quân Tây Sơn
rất hùng mạnh, nhưng nhờ Gia Long có một đạo quân khá tân tiến, có tổ chức,
có binh khí khá tốt mới lấy lại được nước và thống nhất sơn hà. Binh pháp
vẫn theo Binh Thư Yếu Lược của Trần Hưng Ðạo và theo các sách xưa của Trung
Hoa. Một viên tướng lãnh Pháp, G. Lemonnier, đã nói là Nguyễn Ánh đã đọc
ở Saigon những binh thư mà Napoleon I đã được đọc vào thời đó. Ông còn
nói là những cuộc hành binh của Nguyễn Ánh giống hệt các cuộc hành binh
của Ðệ Nhất Cộng Hòa Pháp, giống nhau về tổ chưc, vũ khí và nhất là về
ảnh hưởng của các binh gia cuối thế kỷ 18. Theo Alexis Faure, chính Bá-Ða-Lộc
là một thứ Tổng trưởng Bộ Chiến Tranh, một trợ thủ đắc lực của Gia Long.
Tiến xa hơn nữa, Bá-Ða-Lộc đã giúp xây một thành lũy ở Saigon và lập tại
đó một trường võ bị, dịch những sách về quân sự với những chú thích, viết
một cuốn sách riêng cho các võ quan và giảng dạy cho họ cách dùng binh,
lập những thành lũy kiểu Vauban ở các vị trí quan trọng như Vĩnh Long,
Hà Tiên, Mỹ Tho, Biên Hòa,... Trong các việc này, Bá-Ða-Lộc đều làm việc
với Olivier de Puymanel. Bá-Ða-Lộc đã giúp tổ chức quân đội cho Gia Long
và do đó tính cách tổ chức mang các dấu tích ảnh hưởng của Âu châụ Khi
Bá- Ða-Lộc chết đi, Gia Long đã khóc và xây mộ để tưởng niệm một công thần
có công trong việc thống nhất giang sơn của nhà Nguyễn.
Việc Genouilli khen về các công sự phòng thủ và
hành binh theo kiểu Tây phương của triều Tự Ðức không có gì đáng ngạc nhiên.
Vào ngày 1/9/1858, Pháp gởi tối hậu thơ bắt nhà cầm quyền ở Ðà Nẳng phải
nộp hết đồn ải và định giờ cho quan VN trả lời. Quá giờ, Pháp nổ súng,
VN chống lại nhưng nửa giờ sau thì VN ngừng bắn. 2 hôm sau Pháp phá các
cửa Ðông và Tây và vào chiếm đóng thành Ðà Nẵng. Genouilli cho bắn phá
các đồn lũy rồi hạ thành An Hải và Tôn Hảị Nghe tin Ðà Nẵng bị uy hiếp,
Ðào Trí và Tổng Ðốc Nam-Ngãi, Trần Hoằng, ra chống cự, nhưng khi tới Ðà
Nẵng thì 2 đồn An Hải và Tôn Hải đã bị hạ. Hữu quân Ðô Thống Lê Ðình Lý
và Tham Tri Bộ Hộ Phan Khắc Thuận (quan văn) tới sau với 2000 quân tiếp
ứng. Một trận đụng độ kịch liệt với quân Pháp xảy ra tại Cẩm Lệ. Lê Ðình
Lý bị thương và chết sau đó; Hồ Ðắc Tú đóng đồn Hoá Quê kế cận giữ binh
không đến cứu nên bị cách chức và xiềng lại để điều trạ Tự Ðức sai thống
tướng Nguyễn Tri Phương, đề đốc Chu Phúc Minh và Ðào Tri chống giữ với
quân địch. Nguyễn Tri Phương lập đồn Liên Trì kiên cố rồi đắp lũy từ Hải
Châu đến Phúc Ninh, Thạc Giản để ngăn bước tiến của Pháp.
Pháp chia quân thành 3 đạo hợp công đánh vào và
bị nhử sa xuống hầm chết rất nhiều. Sau nhiều trận đụng độ không có kết
quả, Genouilli bố trí lại quân đội và hỏa pháọ Ông đã dồn hỏa lực pháo
kích dữ dội vào các đồn lũy một cách chính xác. Các ổ súng của ta đều bị
phá hủỵ Quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công mãnh liệt. Quân ta thất thủ và
rút khỏi đồn Liên Trì. Thấy quân VN ở đây dồi dào tinh thần chiến đấu,
lại có tin 10,000 quân VN sắp tới từ Huế, việc tiến quân ra Huế bằng hải
đạo thì ngược gió vì đó là vào mùa đông, đợi mãi không thấy dân công giáo
nổi lên ủng hộ, lại phần bịnh dịch tả đã giết hơn 200 binh sĩ của ông,
nên Genouilli ngừng lại và đổ lỗi tất cả cho Pellerin, cho là Pellerin
đánh lừa vì trước đây Giám mục đã "đoan chắc như vậy". Giám mục Pellerin
tức giận, buồn bã bỏ về dòng tu ở Penang, Mã Lai. Còn phần Genouilli, sau
5 tháng tấn công Ðà Nẵng, do tình trạng khó khăn về tiếp tế, quân du kích
đánh liên miên những trận nhỏ, bệnh hoạn do khí hậu, đánh Huế thì không
đủ sức mà giữ Ðà Nẵng lâu dài thì không được, do đó Genouilli để đại tá
Toyon ở lại Ðà Nẵng và chú trọng đánh vào Nam Kỳ.
Theo Thomazi ("La Conquête de l'Indochine"), sau
trận đánh Ðà Nẵng Genouilli đã viết như sau : "Chánh phủ đã lầm lẫn về
tính cách cuộc can thiệp ở VN. Người ta đã trình bày việc này như một việc
tầm thường, nhưng không đúng như thế. Người ta đã cho chánh phủ hay là
xứ này có nhiều tài nguyên mà sự thật là không có gì; dân chúng có những
xu hướng trái ngược với những gì người ta tiên đoán; cho sức mạnh quan
quyền yếu kém, nhưng thực sự vững mạnh; người ta nói rằng xứ này không
có binh lính quân đội, thì sự thật quân đội ở đây rất dũng cảm và dân quân
gồm tất cả những người lành mạnh trong dân chúng. Người ta cho khí hậu
tốt lành ở đây : khí hậu lại xấu. "Không một trận viễn chinh nào có thể
thực hiện bằng đường bộ dầu đối với những đường đi bộ rất ngắn : quân sĩ
khô ng thể chịu đựng nổi.. Xứ này không có đường bộ, mà có nhiều ruộng
lúa cắt ngang dọc. Trước thành phố Huế cũng như các thị trấn khác, chỉ
có cách đi bằng đường thủy, trừ Saigon... Sau đó người ta đến trước một
thành lũy kiểu Âu châu được trang bị nhiều đại bác và do một đạo quân bao
bọc..." Siết chặt công giáo : Thấy Cửa Hàn thất thủ (9/1858), vua quan
nghi rằng công giáo sẽ trốn đến các tàu của Pháp để khỏi bị vua và triều
đình giết hại nên ra lệnh làm danh sách các người công giáo trong mỗi làng,
thỉnh thoảng lại điểm danh và cấm người công giáo không được ra khỏi làng.
Một vài toán quân phản gián được cho đột nhập vào làng hành hạ và đánh
đập cho tới khi công giáo lòi tiền ra. - đầu đường xó chợ, Thánh giá được
bày ra để họ không dám bước qua và chà đạp. Theo Louvet ("La Cochinchine
Religieuse"), triều đình còn muốn cho giáo dân phải chịu mọi tổn phí về
các cuộc hành quân vì đổ tội rằng người công giáo gây nên chiến tranh,
rối loạn trong nước. Trong khi đó thì Tự Ðức đã sáng tác các bài thơ để
tự an ủi khi quân của ông thất trận ở Cửa Hàn. Theo Louvet, trong thơ Tự
Ðức chửi Pháp là côn đồ, mọi, chó, lợn, trâu. Các binh sĩ công giáo thì
còn bị đưa vào tình thế gay go hơn. Lúc đi đánh Pháp ở Cửa Hàn, quan bắt
193 binh sĩ phải chà đạp lên Thánh giá. Họ không chịu. Tất cả 193 người
liền bị án khổ sai chung thân và phải đi chùi rửa hầm cống trong thành
nội Huế. Saigon thất thủ (1859) : Vài sử gia như Cultru ("Histoire de la
Cochinchine Francaise") và Trần Trọng Kim ("Việt Nam Sử Lược") cho rằng
vào lúc đó ở Bắc Kỳ có khoảng 400,000 công giáo (!) và dư đảng triều Lê
sẽ đồng minh với Pháp lật đổ nhà Nguyễn. Trước khi vào Saigon, Genouilli
có gởi ra Bắc các chiếc tàu như Catina, Primauget và Prégent thì chẳng
thấy ai (Công giáo) tiếp ứng, nên ông đã quyết định đánh Saigon. Ðiều này
chứng tỏ rằng, chánh phủ Pháp không có một chương trình nhất định trong
cuộc chinh phục VN. Ðây là một chỉ thị co dãn. Chẳng hạn lấy được Cửa Hàn
(Tourane) rồi sẽ làm gì ? Lập chế độ bảo hộ hay một hiệp ước thương mãi
? Tâ 't cả tùy các tướng lãnh Pháp tùy cơ định đoạt. Genouilli quyết định
đánh Saigon vì nơi đây có thủy đạo cho tàu bè ra vào, là vựa lúa của VN,
chính vựa lúa này nuôi sống quân đội của triều đình Huế. Theo Ðào Ðăng
Vỹ ("Nguyễn Tri Phương") thì trong một bức thư gởi cho Bộ Thủy Quân, Genouilli
viết :"...Trận đánh Saigon chứng tỏ cho chánh phủ VN là vừa giữ Ðà Nẵng
ta vẫn có thể hành động chỗ khác, và cũng sẽ làm cho họ mất mặt đốI với
các quốc vư ơng Xiêm-La và Cao-Miên, 2 nước láng giềng vẫn ghét họ và sẽ
vui lòng phục hồi được những gì họ đã mất vào tay triều đình VN". Genouilli
để lại Ðà Nẵng 2 pháo thuyền, một số thủy binh và bộ binh giữ các đồn ải,
rồi ngày 2/2/1859, ông kéo hết hạm đội vào Nam cùng với 2000 quân, ghé
Cam Ranh 5 ngày, vào ngày 9/2/1959, Genouilli đến bắn phá 2 bên cửa sông
Ðồng Nai rồi tiến vào Gia Ðịnh (Pháp gọi Gia Ðịnh cũng như Saigon). Gia
Ðịnh có nhiều binh khí, nhưng quân lính bỏ bê luyện tập, khi quân Pháp
tới thì không có quân đủ để đối phó. Chỉ có 2 ngày thành Saigon bị mất,
kế đó là thành Thị Nghè (2 thành này do "gián điệp" Bá-Ða-Lộc xây dựng
cho Gia Long) cũng bị hạ. Lính Pháp và Tây Ban Nha đã tịch thu vô số súng,
thuốc đạn, tiền Pháp, binh khí và lúa gạo. Trận đánh này đã làm giao động
triều dình Huế rất nhiều vì thấy sức mạnh của súng ống Tây phương quá tiến
bộ hơn ta, quâ n đội họ được huấn luyện thành thục và kỹ thuật hơn quân
ta rất nhiều.
Trở lại đánh Ðà Nẳng : Nghĩ rằng chỉ với 2,000
quân việc chiếm giữ rất khó khăn, Genouilli cho đốt lương thực, phá thành
trì và đồn lũy, chỉ giư ~ lại một thành trì về phía Nam và giao cho trung
tá hải quân Jauréguiberry gìn giữ để chống với quân của Tôn Thất Hợp ở
Biên Hòạ Sau đó Genouilli trở ra Ðà Nẳng tấn công một lần nư ~a, đồng thời
xin cầu viện. Chính phủ Pháp do dự. Genouilli từ chức và phó đề đốc Page
được cử thay thế. Page được lịnh điều đình với triều đình Huế chỉ yêu cầu
được tự do truyền giáo, đặt lãnh sự và giao thưong, và không đòi hỏi một
sự nhượng đất nàọ Theo Ðào Ðăng Vỹ ("Nguyễn Tri Phương") thì việc điều
đình này kéo dài lằng nhằng không đi đến đâu, vì vua quan ta vẫn chưa hiểu
tình hình quốc tế, vẫn trông quân Pháp sẽ mõi mệt và chán nản mà kéo về,
chứ ta nhất định không ký kết gì hết. Chờ điều đình hoài không được, ngày
18/ 11/1859, Page đánh các đồn phía Tây Ðà Nẳng. Ta phải rút ra khỏi nhiều
vị trí.
Cũng theo Ðào Ðăng Vỹ, nhân thấy Pháp đang cố
đánh con đường bộ ra Huế, Nguyễn Tri Phương dâng sớ tâu cho Tự Ðức biết
là ông nhận xét quân Pháp có vũ khí tinh xảo, giáp trận thì liều chết,
tiến thoái trật tự, quân ta không thể là đối thủ, xin đem quân lập lại
các đồn khác để cố thủ, lập kế lâu dài, tích trử lương thực tại các quân
khu, binh lương và súng ống dem đến các đồn để chuẩn bị khi có việc xảy
ra, tổ chức những toán quân du kích mai phục đánh úp quân Pháp. Nói tóm
lại, Nguyễn Tri Phương khuyên vua nên chuẩn bị việc phòng thủ và tổ chức
ngay bây giờ. Vua Tự Ðức đang bực vì các trận thua nên quở :"Ðã làm tướng
đánh giặc mà lại sợ giặc, để cái lo cho vua, rồi lại không làm gì hết thì
có đâu mà thành công được ? ở Chiến - hòa - thủ, 3 việc ấy nên dùng việc
nào ? Cho cứ thế mà làm chớ đừng nói rằng triều đình không có người, nếu
thiếu tướng tài thì cứ giữ vậy mà chịu chết." Tiếp được chỉ, Phương đành
dâng biểu tạ tộị Tuy nhiên, ông vẫn giữ thế thủ, đắp thêm đồn lũy, chia
quân đóng rải rác để phòng giữ Ðà Nẳng. ở Chiến - hòa - thủ : thấy mưu
đồ của Pháp quá rõ, Tự Ðức bàn với Nguyễn Tri Phương rồi đưa ra câu Chiến
Hòa Thủ để xem ai trong nước có kế gì haỵ Cả 3 phe (chủ chiến, chủ hòa,
chủ thủ) đều có cả. Phan Thanh Giản, Trương Ðăng Quế và Lưu Lăng chủ hòa
để phòng bị lương thực và vũ khí. Trương Quốc Dung, Chu Phúc Minh, Lâm
Duy Hiệp chủ trương phòng thủ. Phạm Hữu Nghi, Hồ Sĩ Tuấn chủ trương kháng
chiến. Với các ý kiến tương phản như trên, Tự Ðức bối rối :"Nếu kháng chiến
với người Pháp là một việc khó, thì ký hòa ước càng khó gấp trăm phần."ở
Thật tội nghiệp cho dũng tướng Nguyễn Tri Phương, xông xáo chỉ một mình.
Tuy thông minh, thật ra Tự Ðức chỉ là một một nhà thơ giỏi, một nhà Nho
theo lối học cổ điển chỉ biết nước Tàu là nhất. Ông quan niệm chiến tranh
như thời xưa của thời Tam Quốc, Trần Hưng Ðạo, Lê Lợị..chỉ cần tướng giỏi
trong khi cuộc chiến bắt đầu là cuộc chiến về kỹ thuật; vua chỉ ra lệnh
đốc thúc chớ không lo gì cả. Trong khi đó, Nguyễn Tri Phương là một vị
tướng đầy kinh nghiệm chiến trường, đã thắng Chân Lạp, thắng quân Xiêm,
thắng quân phiến loạn mọi nơi, lại đối chọi với Pháp nhiều trận, lúc thắng,
lúc bại, nên ông thấy rõ những điều như sau :
- Vũ khí Pháp tân tiến, súng của ta thì xưa hơn,
bắn chậm và yếu, không đi xa, không chính xác và sức tàn phá thì không
bằng. Một số lớn quân ta còn dùng gươm giáo và mã tấu.
- Chiến hạm Pháp chạy quá maụ Thủy và bộ binh
được huấn luyện tinh vi, nghiêm chỉnh. Sĩ quan lúc nào cũng dẫn đầu bộ
binh. Chiến thuyền của ta thì xưạ Tàu lớn đóng bằng gỗ theo kiểu ghe lớn,
gắn súng đại bác xưa hơn. Ta còn lại các Tàu kiểu Âu Tây do Bá-Ða-Lộc để
lại nhưng cũng đã xưạ Quân đội đã khô ng còn thuần thục như lúc trước nữa;
lý do là họ được 6 tháng về quê làm ruộng, 6 tháng phục vụ trong quân độị
Việc huấn luyện binh sĩ không tinh vi và họ đang thiếu tinh thần chiến
đâ 'ụ Võ quan của ta thì luôn luôn đi sau binh lính vì vậy khi gặp đụng
độ khó khăn thì dễ tan vỡ. Chỉ có một số ít là còn được huấn luyện theo
kiểu Âu Tây với những sách lược do Bá- Ða-Lộc để lại Tuy thế, Nguyễn Tri
Phương quả là viên tướng tàị Khi vừa bố trí xong thành thì Pháp tấn công.
Phương có lối ứng chiến hữu hiệu nên Pháp thua dàị Thắng trận, Phương được
Tự Ðức mư `ng rỡ tiếp và nhân đó vua hỏi về vấn đề Saigon. Phương cho rằng
nên thủ đừng nên đánh, và dề nghị về chiến tranh du kích. Page được lệnh
rút quân để qua tăng cường cho hạm đội của Trung tướng Charner đang hợp
với quân đội Anh đánh Trung Hoa. Ngày 22/3/1860, Page xuôi tàu vào Nam.
Page xem xét tình hình và bố trí vùng Saigon - Chợ Lớn, cử Ðại tá hải quân
d'Ariès chỉ huy quân đội Pháp tại đâỵ Ariès có gần 1000 quân Pháp-Tây,
một số dân Việt và người Tàu được thu nạp làm quân phụ thuộc. Xong Page
đi hợp với hạm đội của Charner.
Trừng trị bọn tà đạo : Ðược tin Page ra đi, Tự
Ðức liền gởi khắp nơi trong nước báo cho dân biết quân đội của ông đã đuổi
mọi trắng chạy trốn và muốn quay lại chém giết bọn "tà đạo" trong nước
cho bỏ ghét. Sau đây là lời Tự Ðức (Schreiner : "Abrégé de l'Histoire d'Annam")
:
"Bọn chúng nó đã đi, bọn mọi phương Tây đã
đi, chúng chỉ biết làm điều xấu xa, chỉ có mục đích làm lợi cho xứ sở chúng.
Chúng đã đi, bọn quái ác chỉ biết ăn thịt người và mặt da người. Chúng
là bọn cướp vụng về nhất, binh sĩ dũng cảm của chúng ta đã đánh đuổi chúng,
chúng chạy như chó, đuôi quặp giữa hai chân.
"Nhưng vì chúng còn có thể đến phá phách nên
chúng ta phải chuâ ?n bị cấp tốc hiện nay là tiêu diệt tà đạo, như thế
bọn mọi sẽ không còn ai giúp đỡ, sẽ không còn ai tiếp ở. Ðói chúng sẽ bỏ
chạy. "Vì vậy hãy giết cho sạch bọn đạo trưởng, bắt giam tất cả bọn thủ
lãnh công giáo; còn giáo dân hãy bắt chúng xây chùa học kinh thờ Phật;
hãy truyền lệnh cho hết mọi người, đàn ông, đàn bà, già trẻ chà đạp Thánh
giá, ai dám chống lại hãy đày nó đi.."
ở Theo Louvet thì chắc Tự Ðức muốn ám chỉ là tại
vùng Saigon, khi Tôn Thất Hiệp không cho ai tiếp xúc quân Pháp trong thành
để quân Pháp không còn lương thực; khi họ sắp chết đói thì giám mục Lefèvre
vì lòng nhân đạo đã gom một số gạo cho đám người này cầm hơi. Lefèvre đã
phạm lỗi lầm, đổ dầu vào lửa và tạo thêm cớ cho triều đình sát hại người
công giáo Việt Nam.ở Tình hình đen tối của công giáo (1858-1862) Theo Louvet
("La Cochinchine Religieuse"), không bút mực nào có thể diễn tả nổi những
chuỗi ngày đau khổ của giáo hội này kể từ khi Pháp đặt chân lên đất nước
VN. Sự hiện diện của Pháp trên đất Việt trở thành cái cớ vững chắc để cấm
đạo, giết hại người công giáo không những vì họ theo "tà đạo" mà còn là
"đồng minh của địch"; nghĩa là triều đình dựa trên 2 lý do : tôn giáo và
chính trị. Trong các vụ xử, dù người công giáo cố gắng chứng minh lòng
ái quốc của họ, nhưng các quan vẫn nhắm mă 't lý luận rằng :"Quân Pháp
ở Cửa Hàn và ở Gia Ðịnh; chúng ra yêu sách kêu triều đình ta cho người
công giáo được tự do hành đạo, nên người công giáo là đồng minh của địch."
Dựa vào lý luận này, việc bắt đạo càng dã man gấp mấy năm trước. Có kẻ
cho rằng một số người bên lương theo đạo không phải vì tôn giáo, mà vì
muốn nhập quốc tịch Pháp. Chính quan niệm này lại gây chia rẽ thêm cho
người cùng một nước, trong khi sự đoàn kết rất cần thiết để bảo vệ non
sông. Louvet ("La Cochinchine Religieuse") nhận xét rằng :"Không nên bao
giờ, dù với một lý do rất ngay lành trong sạch, trà trộn tôn giáo với chính
trị, vì chính trị phá hoại tôn giáọ" Thật là chí lý.
Sắc dụ cấm đạo 1859 : Theo Louvet thì sắc dụ này
như sau : "Tà đạo của người công giáo đã đem lại biết bao điều tai hại.
Chúng ta không thể liệt tà đạo này vào hạng các tôn giáo dị đoan khác mà
chúng ta dung thứ ở trong nước, phải luôn luôn cấm đoán tà đạo nàỵ Những
ai theo đạo công giáo lập thành một xã hội riêng biệt, mặc dù chúng nó
không công khai đứng lên chống chính quyền, nhưng trong thâm tâm, chúng
tha thiết với người ngoại quốc.
"Vì vậy, ta truyền phải điều tra cho biết số các
quan đã theo tà đạo ấỵ Những quan nào mặc dù đã thành thực bỏ đạo cũng
phải mất tất cả cấp bậc, về những quan không chịu bỏ đạo, nê 'u là quan
văn từ cửu phẩm, quan võ từ lục phẩm sẽ bị án trảm quyết. Cần phải điều
tra cẩn thận để tìm những nhân viên công giáo trong chính phủ. Những ai
không tố cáo sự hiện diện của họ hay oa trữ họ trong nhà mình sẽ bị trừng
trị"
Cũng vào năm này, có sắc lệnh riêng bắt các quan
công giáo trong quân đội.
Sắc dụ cấm đạo 17/1/1860 : "Từ lâu, đạo Gia-Tô
đã vào nước chúng ta và đã làm mê hoặc dân chúng, đã có những sắc dụ rất
nghiêm khắc cấm tà đạo, mỗi lần có tên công giáo nào bị bắt, chúng ta đã
trừng trị bọn chúng nó, vậy mà vẫn có bọn người ngu ngốc mù quáng nhất
định không chịu bỏ đạo. "Lúc tàu của bọn mọi rợ đến trong nước chúng ta,
vô cớ chúng đưa sự loạn lạc trong các tỉnh Quảng Nam và Gia Ðịnh, nhưng
chúng không đưa đến một kết quả nào, ban đầu chúng muốn liên lạc với chúng
ta, và đã khiêm nhường yêu cầu chúng ta kính trọng sư . tự do tín ngưỡng.
Rõ ràng chúng không có mục đích gì ngoài mục đích này. "Những kẻ thủ lãnh
của bọn chúng đã tưởng rằng vì lời yêu cầu ấy chúng ta sẽ hủy bỏ những
dụ cấm đạo, chúng ta biết chắc chúng nuôi ý tưởng ấy thầm kín trong lòng.
Chúng ta cần phải trừng trị chúng một lần nữa cho chúng biết mặt. Chúng
ta cần phải rẽ lúa tốt ra khỏi cỏ lùng, người lương dân với bọn côn đồ,
chúng ta phải tiêu diệt tất cả những ước vọng xấu xa của chúng. "Còn những
kẻ có ý tưởng phản động, chúng ta phải tập trung chúng vào một làng cho
người canh giữ cẩn thận, trừ kẻ già cả, đàn bà con nít hay là những kẻ
ăn ở ôn hòa trong làng trong xóm,...Như vậy ta đã chỉ rõ phải bắt giam
những ai, phải tập trung những người nàọ Có những làng gồm toàn bọn côn
đồ này, có làng phân nữa là côn đồ, có làng bọn chúng chiếm số ít, nơi
nào mà chúng chiếm đa số hãy bắt giam tất cả bọn chức dịch của chúng, cũng
như tất cả những đàn bà đi mang thư từ tin tức; trong những làng nào mà
bọn chúng chiếm phần thiểu số, dân chúng các làng ấy có đủ sức canh gác
chúng được. "Những điều Trẫm vừa truyền là những điều thuộc phạm vi của
các tri huyện. Các tri huyện còn phải làm sổ các trẻ em trên 15 tuổi, phải
kiểm điểm chúng vào những ngày nhất định để có thể biết chúng nó có mặt
trong làng hay đã đi nơI khác; nếu có trẻ nào vắng mặt, các người canh
phải chịu tội thay thế. Tri huyện nào chểnh mảng trong việc này cũng phải
bị phạt. Như vậy chúng ta sẽ phân chia người lành ra khỏi kẻ dữ. "Tất cả
những nhân viên của triều đình phải giữ những điều Trẫm dạy và ân cần hoạt
động theo như những chỉ thị của Trẫm. Nếu có những người nào dám theo ý
kiến của mình, người ấy sẽ bị phạt như kẻ vi phạm đến luật nhà nước. Chư
khanh nên biết rằng Trẫm đã nhọc mệt để dạy dỗ chư khanh. Về những mục
khác hãy chiếu theo những sắc dụ đã ra trước."
Một sắc dụ khác trong năm truyền truy nã các bà
phước :
"Bọn công giáo là bọn côn đồ, không thể nào
đưa chúng về đàng ngay nẻo chánh được, chúng dùng những đàn bà xấu nết
mà chúng gọi là trinh nữ, là bà phước để giấu giếm các đồ thờ, để đưa thư
từ và tin tức từ tỉnh này qua tỉnh khác. Vậy Trẫm truyền cấm đàn ông đàn
bà con nít không được ra khỏi làng mình, cấm ngặt không được cấp giấy thông
hành cho người công giáo từ tỉnh này qua tỉnh khác. Chúng phải ở trong
làng để người ta có thể kiểm điểm chúng và dạy dỗ để đưa chúng về chính
lộ. Nếu còn bắt gặp đàn bà nào đi từ làng này sang làng khác, phải theo
các điều trong sắc dụ đối với bọn đàn bà ấy. Sắc dụ mà trước kia đã được
công bố ở Hà Nội và Phú Yên để trừng phạt bọn chúng (theo đó thì các bà
phước bị bắt phải làm tôi tớ chung thân trong gia đình các quan)."
Sau cùng, vào cuối năm 1860, Tự Ðức ra sắc dụ
quyết liệt cố ý phân tán người Việt công giáo khắp nơi; đây là biện pháp
cuối cùng. Lúc đầu Tự Ðức còn do dự vì nó sẽ sinh biến, nhưng sau cùng
Tự Ðức cho thi hành mặc dù các quan trong triều ngăn cản. Sau đây là những
điều khoảng chính :
1) Tất cả những người nào, tự nhận là công giáo
đều phải cho tản mát sang các làng bên lương.
2) Tất cả các làng bên lương đều có trách nhiệm
canh giữ những người công giáo, cứ 5 người lương giữ một người giáo.
3) Tất cả các làng công giáo đều phải phá hủy.
Vườn tược, nhà cửa sẽ được chia cho các làng lương kế cận, các làng này
phải chịu thuế về đất vườn mình lãnh.
4) Phải chia rẽ người đàn ông công giáo ra khỏi
người đàn bà công giáo. Các người đàn ông sẽ được gởi đi một tỉnh, các
người đàn bà gởi qua một tỉnh để chúng không còn có thể sum họp, con cái
sẽ giao cho các gia đình lương nuôi nấng.
5) Trước lúc tản mát phải khắc 2 chữ Tả Ðạo vào
má ngườI đàn ông, đàn bà, con trẻ, và cũng phải khắc tên tổng và huyện
mà chúng phải tới ngõ hầu chúng không trốn tránh được.
Dụ này vừa được ban ra, ai nấy cũng rụng rời.
Tự Ðức và các quan đồng tâm trong công việc này. Sau đó, nhà cửa ở các
làng công giáo bị đốt sạch, nhà giam mọc lên như nấm. Gia tài của họ được
giao cho các người lương hưởng. Một số công giáo rũ nhau lên rừng, xuống
thuyền chạy trốn. Số còn lại bị bắt và đày lên rừng, sống cuộc đời khổ
sai. Sắc dụ này đã làm cho giáo hội này đến chỗ sắp tàn.
Sau này, khi chinh chiến đã qua, có tới 40,000
- 50,000 người đã chết, con cái họ không còn nhớ đạo nữa.
Nguyễn Tri Phương vào Sàigòn : Vào 1860, Nam Kỳ
có nhiều rối reng. Những người Cao-Miên của đất Chân Lạp cũ và một số người
Tàu sinh cơ lập nghiệp ở đây từ lâu, đã đầu quân theo Pháp. Họ đánh 2 tỉnh
An Giang và Hà Tiên; Tổng đốc 2 tỉnh này dâng sớ cầu cứu vua Tự Ðức. Ðây
là lúc (7/1860) mà vua gởi Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển vào Nam để
phối hợp với Tôn Thất Hợp xây lại đồn điền, sửa sang lại các thành quách
ở Kỳ Hòa (tức Chí Hòa ngày nay), Lũng Bằng, Tham Lương, Thuận Kiều và Rạch
Trạ Trương Công Ðịnh được phong lãnh binh lãnh đạo các đồn điền quanh Saigon
như Hòa Hưng, Chợ Lớn, Bà Ðiểm, gây cho Pháp nhiều thiệt hại như bắn chết
các sĩ quan Pháp Harmand, Barbé. Trước khi đi, Phương đã mật tấu với Tự
Ðức bày kế giữ vững phần đất Trung Kỳ và Bắc Kỳ; ông cũng khuyên vua nên
tin cậy ở Phan Thanh Giản và Nguyễn Bá Nghi nếu Quảng Nam có biến.
Theo gia phả của dòng họ Nguyễn Tri Phương, thì
Tự Ðức đã dặn ông : "Việc dẹp phiến loạn tuy là phận sự của các tỉnh Hà
Tiên, Biên Hòa, nhưng Trẫm cũng giao cho khanh tự quyền sắp đặt điều gì
lợi cứ việc thi hành. Trẫm giao vận mệnh nước nhà vào tay khanh. Trẫm cầu
Trời Phật giúp khanh thành công để dân sự trở về cảnh thanh bình. Ðức độ
và tài trí của khanh, Trẫm đã biết nhiều rồi. Nhưng khanh có tính nóng
nảy, vậy khanh nên mở lượng bao dung với sĩ tốt, đại sự ắt phải thành."
Liên quân Pháp - Tây Ban Nha do D'Ariès và Palanca chỉ huy chỉ có độ 1000
người; quân của Nguyễn Tri Phương là 12,000. Quân Pháp đánh cầm chừng để
chờ quân viện. Vào 7/2/1861, Pháp-Anh thắng ở Tàu; đại biểu nhà Thanh là
Lý Hồng Chương ký hòa ước, bãi việc chiến tranh; Pháp sai Trung tướng Charner
kéo binh đến VN, chủ trương lấy Nam Việt. Tại Saigon, tuy có quân ít ỏi,
nhưng d'Ariès với số quân 1000 và vài chiến thuyền phòng ngự vùng đã giao
từ trước, bố trí quân lực vô cùng khéo léo để cầm cự với quân lực của ta
đông gấp 12 lần. Theo Ðào Ðăng Vỹ ("Nguyễn Tri Phương"), vào năm 1860,
đã có 111 tàu Âu Tây và 140 ghe Tàu lớn ra vào giữa Saigon, Hong Kong và
Singapore, chở lúa gạo đi bán các chỗ và đem hàng hóa khác tới Saigon-Chợ
Lớn. Một số người Tàu được lợi nhất trong công cuộc phát triển này. Cái
lợi tương đồng đã đưa đến sự kết hợp giữa vài người Tàu và thực dân Pháp,
ở Saigon - Chợ Lớn ngay vào lúc này, cũng như ngay cả ở Hà Nội và Hải Phòng
12 năm về sau. Chính vì Pháp đang có dã tâm cũng cố vị trí, tổ chức để
đi sâu vào dân chúng nên họ là cái gai trước mắt của quân ta; nhưng dù
cố gắng qua bao nhiêu trận, ta vẫn bị đẩy lui và mang nhiều thương vong.
Trần Trọng Kim ("Việt Nam Sử Lược") đã trả lời là :
"Quân ta không được luyện tập lại không có
súng ống như quân Tây. Mình chỉ có mấy khẩu súng cổ bắn bằng đá lửa, đi
xa độ 250 hay 300 m là cùng, còn súng đại bác thì toàn là súng nạp tiền
mà bắn mười phát không đậu một. Lấy những quân lính ấy, những khí giới
ấy mà đối địch với quân đã tập theo lối mới, bắn bằng súng nạp hậu và bằng
đạn trái phá, thì đánh làm sao được. Bởi vậy cho nên xem trận đồ của VN
ta từ đầu cho dến cuối, chỉ có cách đào hầm đào hố để làm thế thủ, chứ
không bao giờ có thế công, mà người Tây thì lợi cả công lẫn thủ".
Vào ngày 7/2/1861, Charner đem 70 chiếc tàu và
3,500 quân kéo đến Gia Ðịnh. Ðồn Lũng Bằng thất thủ ngày 24/2/1861. Ðồn
Kỳ Hòa mất ngày 25/2/1861 sau khi Nguyễn Duy, em ruột của Nguyễn Tri Phươ
ng, tử thương. Ðồn Kỳ Hòa mất, Nguyễn Tri Phương chạy về Biên Hòa, Phạm
Thế Hiển bị thương nặng chạy về đây mấy hôm thì mất. Pháp có nhiều tuớng
tá tử trận : đại tá Tây Ban Nha Palanca, đại tá Tesard, Lareynière và 300
quân Pháp chết. Theo Phan Khoang ("Việt Pháp Bang Giao Sử Lược") thì các
quan trong triều liền tâu :"Gia Ðịnh thất thủ, quan giữ thành phải chịu
tội, vậy tâu xin Bệ hạ xử các ông Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển, Tôn
Thất Cáp phải mất chức và tỉnh thần Gia định đều bị cách chức." Các đám
quan này sống êm ấm, lúc nào muốn tri tội ai thì không kém hăng hái, nhưng
lúc cần thì không có ai, chỉ có Nguyễn Tri Phương mà thôi. Tướng mất thành
thì phải tội đã đành, nhưng phải xét mất bằng cách nào và vì sao. Phương
đã trải thân qua hằng trăm trận mạc, lúc 60 tuổi rồi còn phải liều thân
trước lằn tên mũi đạn của quân thù mà chính thiên triều phía Bắc còn thua.
Trong trận này, Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, Phạm Thế Hiển còn bị
nặng hơn, em của Phương tử trận. Tuy nhiên, Tự Ðức chỉ giáng chức của Nguyễn
Tri Phương xuống hàng Tham Tri. Nguyễn Tri Phương trở về Huế dưỡng bịnh,
nhưng lòng ông không yên. Phá xong đồn Kỳ Hòa, Charner tiến đánh Biên Hòa,
Thủ Dầu Một, Tây Ninh và Mỹ Tho. Tự Ðức hay tin và thấy không thể nào chống
nổi quân Pháp nên sai Nguyễn Bá Nghi vào xin giảng hòa trong khi phe chủ
chiến như Trương Ðăng Quế thì chống. Ngay lúc đó, những cuộc kháng chiến
chống Pháp ở miền Nam cũng vừa bùng nổ vì họ hay tin triều đình Huế rục
rịch đòi hàng. Trương Công Ðịnh, Phan Văn Ðạt, Nguyễn Thành Ý, Lưu Tấn
Thiên, Hồ Huấn Nghiệp hô hào dân chúng Nam Kỳ khởi nghĩa, bỏ nhà, bỏ ruộng
theo nghĩa quân chống giặc đến nổi báo chí của Pháp thời đó đã viết :"Tất
cả người Việt Nam đều theo kháng chiến, ở đây nơi nào cũng chống ta.."
Vào ngày 10/1861, Ðô đốc Bonard sang thay Charner. Với Bonard, cuộc chinh
phục càng mở rộng. Lần lượt Biên Hòa, Bà Rịa và Vĩnh Long rơi vào tay địch.
Thấy tình thế nguy ngập, triều thần lại đề nghị vua phục chức cho Nguyễn
Tri Phương, vì không thấy ai có thể lo chuyện này một cách đáng tin cậy.
Nguyễn Tri Phương vào tới Quảng Nam lo chuẩn bị cho Ðà Nẳng. Khi vừa tới
Bình Thuận thì ông gặp Nguyễn Bá Nghi chạy giặc trở ra than rằng :"Súng
Tây nó bắn dữ quá. Không thể giữ thành nổi. Tôi phải làm sớ về Kinh thỉnh
tội." Ðã quá trễ cho Nguyễn Tri Phương vì mấy tỉnh trong Nam Kỳ đều thất
thủ cả rồi. Ông đành phải trở về triều phục mạng. Thật là đáng tiếc. Giặc
Miên, giặc Xiêm, giặc Pháp, giặc Tàu (giặc Tàu-Ô quấy nhiễu vùng đảo Phò
Long và Cát Bà; 1865), giặc Mọi, giặc phiến loạn, giặc trong Nam, giặc
ngoài Bắc, lửa cháy rần rần mà người cầm đầu như Tự Ðức không có chính
sách đoàn kết toàn diện, không biết thảo kế hoạch qui mô và lâu dài, cứ
vá víu nhất thời rồi chạy quanh co, bối rối, triều thần thì vô dụng, chỉ
có một tướng tài thì bị quay như chong chóng, lúc thì đá xuống, lúc thì
nâng lên, coi dân công giáo kẻ thù, đối xử vô cùng tàn nhẫn, xô đẩy họ
vào tuyệt lộ như trình bày sau đâỵ Cái cơ mất nước do đó không còn xa.
Phân Sáp (1860-1861) :
Trong thời kỳ này, chữ "phân sáp" được dùng để chỉ hình phạt dành cho người
công giáo phải tản mác vào các làng khác theo sắc dụ 1860. Vào năm 1861,
sắc dụ 1860 được áp dụng trên toàn quốc. Tất cả công giáo, ngay cả người
đã chối đạo, đều bị bắt, chỉ còn lại các cụ già, bà lão và trẻ con. Nhà
cửa của họ bị đốt phá, vườn tược được giao cho người lương. Các người bị
bắt được đưa đến nha phủ để được khắc vào má 2 chữ Tả Ðạọ Trong 8 ngày,
nếu 2 chữ trên hiện ra thì không sao, nếu hiện ra quá mờ phải được khắc
lại một lần nữa. Việc phân sáp đã làm đảo lộn xã hội Việt Nam vào thời
nàỵ Cứ 5 người lương canh 1 người công giáọ Làm sao kiếm chỗ ở cho người
công giáo đó ? Theo Louvet ("La Cochinchine Religieuse"), thường người
ta lùa những người công giáo này như lùa trâu, cho vào những cái chuồng
rộng lớn, không có nhà hay vách. Trời mưa thì nằm trên bùn, trời nắng thì
ngủ đất khô. Ban đầu dân làng còn thay phiên nhau canh gát, nhưng sau để
khỏi nhọc mệt, họ để các người công giáo chết đói, chết khát, còn ai sống
dai thì dân làng cứ việc khệnh cho nhừ tử, rồi cáo với quan : "Bọn Gia-Tô
đã chết vì bịnh (theo Louvet)."
Ðịa phận Saigon (1859-1860) : Vào
năm 1860, Giám mục Saigon Lefèbvre cho biết :"Khắp nơi trong địa phận,
các quan bắt đạo rất dữ dộị Nội trong năm 1860, ở tại địa phận Saigon,
có đến 396 người công giáo mang gông xiềng; con số này còn tăng lên nữa
lúc Tự Ðức ban chỉ dụ bắt các chức dịch trong họ. Có nhiều người vì quá
tuyệt vọng đã chạy vào khu vực do quân Pháp chiếm đóng, nơi đây họ được
hưởng tự do, thoát được nanh vuốt của đám quan liêu tàn nhẫn. Vì không
làm gì được họ, nên triều đình mớI phao rằng công giáo theo địch, rồi tàn
sát những người đang nằm trong tay họ" Giám mục Retord Liêu từ trần tại
Bắc Việt : Theo Launay ("Mgr. Retord"), Retord lẫn trốn tại vùng Bút Sơn
trong vùng Núi Voi với các thừa sai Charbonnier và Mathevon. Như đã kể
ở trên, quan hay tin đem 700 quân đến bao vây, nhưng họ lại chạy thoát
vào trong hang núi ở rừng sâu; họ phải thường dời chỗ vào ban đêm. - Bút
Sơn không chắc, Retord nhờ người đưa qua Ðồng Bầu, nhưng kẻ dẫn đường quá
sợ lại đưa họ nương theo rừng sâu mà đị Ðến Ðồng Bầu, tình thế cũng không
yên nên họ lại trốn lên núi, dựng lều để tạm trú; Retord đan thúng, còn
các người khác thì trồng rau. Charbonnier chịu không nổi khí hậu quá khắc
nghiệt nên xin trốn về đồng bằng. Vào lúc này, cả nhóm hy vọng rằng vụ
Cửa Hàn liên quan tới Genouilli sẽ làm cho Tự Ðức hủy bỏ dụ cấm đạo, nhưng
điều này không bao giờ xảy ra. Khí hậu không tốt và nước độc làm Retord
bị sốt rét ngã nước, cứ 2 ngày lên cơn một lần; sau đó Retord lại mắc bệnh
kiết lỵ Thấy ông đã kiệt sức, Mathevon đã làm phép xức dầụ Ngày 20/10/1859,
Retord lìa đời trong rừng núi của Bắc Việt. Sau khi Retord chết, phó giám
mục Jeantet truyền chức giám mục cho thừa sai Theurel; vụ truyền chức này
xảy ra vào ban đêm dưới một căn hầm. Sát hại công giáo Bà-Rịa : Hàng loạt
cuộc bắt đạo và tàn sát đã diễn ra khắp các nơi ở miền Nam, nhất là từ
năm 1859 trở đi như ở Vĩnh Long (1859), Mỹ Tho (1859-1860), Chợ Quán (1859),
Biên Hòa (1859-1860; khi quân của Genouilli vào đánh Saigon, tất cả công
giáo bị giam trong tù đều được đưa đi Biên Hòa; các giáo dân ở các họ đạo
ở Tân Triều, Mỹ Hội, Lái Thiêu, Thủ Dầu Một cũng bị giải đến đó). Tới khi
Charner chiếm Biên Hòa năm 1861, tàn quân VN chạy về Bà Rịa, nơi đây đã
có hơn 700 người công giáo bị giam trong 4 nhà tù từ trước. Trong số có
400 đàn ông giam tại thành phố; cách đó 200 m là một nhà tù khác giam 135
đàn bà và trẻ em; tại xã Long Ðiền có giam 140 đàn bà công giáọ Tất cả
đều phải bị khắc chữ : một bên khắc "tả đạo", bên kia khắc "Biên Hòa Dinh"
(vào thời đó, Bà Rịa là một phủ của tỉnh Biên Hòa). Lúc đầu, các người
bị giam còn có tiền nên lính còn đối đãi tốt, nhưng sau đó khi không còn
gì nữa thì lính đối xử cay nghiệt. Tù phải nằm trên đất; người yếu thì
chết rũ tù, phần còn lại đều bị kiết lỵ; lính không cho họ ra khỏi tù để
đi vệ sinh; cả nhà tù xông mùi rất khó chịu. Ngày 7/1/1862, Bonard tiến
về Bà-Rịa. Khi chỉ cách nơi đây vào 2 km thì họ khựng lại vì lúc này là
mùa mưa, đường lầy lội. Sau đó thì quân Pháp đã thấy từ xa từng đám lửa
cháy rực cả châu thành Bà Rịạ Sau khi tới thì họ đã thấy hằng trăm xác
cháy đen. Trong số 300 đàn ông thì chỉ có 10 ngườI chạy thoát. Về phía
đàn bà thì 160 phụ nữ và 50 trẻ em bị thiêu sống. Trong 700 người bị giam,
thì vào khoảng 250 là còn sống sót. Ðánh tới đâu thì Pháp đặt người cai
trị tới đó, thâu thuế má (30/1/1862), đặt đường giây thép từ Saigon qua
Chợ Lớn, Biên Hòa, Bà Rịa và Vũng Tàu, lập nhà thương, nhà in, nhà thờ,
phủ Thống Ðốc. Pháp mộ người Nam vào các bộ đội trú phòng (lính khố xanh)
để đóng giữ Gò Công, Gò Giao, Cái Bè,... Giám mục Cuénot (1861) : Theo
"La Salle des Martyrs du Séminaire des Missions Étrangères", Charles Douniol,
Librairie-Editeur, 1865, ở địa phận Qui Nhơn không còn một vị thừa sai
nào chỉ trừ có Cuénot. Ông thường trốn ở Gò Thị, nhưng từ khi có chỉ dụ
Phân Sáp, Cuénot phải chạy trốn từ nhà này sang nhà khác. Sau cùng, để
tránh liên lụy cho một bổn đạo dấu ông trong một căn hầm trong nhà, Cuénot
đã ra tự thú. Ông bị lính nhào tới trói, nhưng vị quan chỉ huy có lòng
nhân đạo, truyền lệnh cởi dây và mời Cuénot ngồi cùng chiếu với ông ta.
Sáng hôm sau, Cuénot bị nhốt trong cũi và điệu lên tỉnh nhốt vào tù. Vào
tháng 10/1861 có mưa lụt, mọi thứ trong tù đều ướt sạch. Cuénot bị kiết
lỵ và qua đờI vào ngày 14/11/1861. Sau 34 nă m sống ở VN , Cuénot không
có được một ngày nào gọi là yên ổn. Khi ông vừa tắt thở thì có giấy từ
triều đình Huế truyền phải chém đầu lập tức. Viên Trấn Thủ Bình Ðịnh ra
lệnh :"Chém làm gì, vì ông ấy đã chết, buộc xác ông ta vào bốn cây que
rồi dem đi chôn là yên chuyện". Bản án của Triều đình lại như sau : "Tây
Dương Ðạo Trưởng Thể (tên Việt của Cuénot) đã lẫn lút trong nước chúng
ta gần 40 năm nay, y đã giảng đạo và lừa dối dân chúng. Bị bắt và tra hỏi,
y đã thú nhận tất cả tội lỗi. Lẽ ra phải chém đầu y, rồi bêu lên ở chợ,
nhưng vì y đã chết trong tù, ta truyền phải quăng xác y xuống sông." Y
theo án, Trấn Thủ Bình Ðịnh quật mộ của Cuénot và truyền liệng xác xuống
sông. Linh mục Ðặng Ðức Tuấn : Ðối với vua Tự Ðức và triều đình của ông,
đạo Gia-Tô là đạo dị đoan, là tà thuyết ngu muội, xúi dân phản quốc và
theo giặc. Ðể sửa đổi quan niệm sai lầm này, linh mục Ðặng Ðức Tuấn đã
làm một bản điều trần bày tỏ mọi việc. Ông bị bắt ngay quận Mộ Ðức và quan
xét trong người ông một bản điều trần gồm 6 trang. Sau khi biết Tuấn là
đạo trưởng Gia-Tô, quan giải ông ra tỉnh. Vào lúc đó có 2 vị quan ở Kinh
đô đến Bình Ðịnh quan sát tình hình địa phương và có dịp đọc bài điều trần
của Tuấn. 2 vị này đề nghị đem bản điều trần và lời khai của Tuấn về cơ
mật viện để dâng lên Tự Ðức. Khi được dẫn đến Bộ Binh, Tuấn gặp qua Thương
thư Lâm Duy Hiệp và ông này đi vào nội tấụ Sau khi có các quan đầy đủ trong
bộ, dưới sự chủ tọa của Lâm Duy Hiệp và Phan Thanh Giản, Tuấn được ngồi
trên một chiếc chiếu để cung khai. Phan Thanh Giản nói rằng :"Nay vua truyền
mời đạo trưởng về triều để xét 2 điều : Thứ nhất nghe trong đạo Công giáo
có nhiều điều khó hiểu, hai là nguyên cớ gì mà Tây Dương đến đây quấy rối
làm ngang, thầy cứ lấy sự thật khai" Tuấn đã phân giải 2 vấn đề quan trọng
gây bao tai hại lớn lao vào lúc bấy giờ. Sau đó, Tuấn được đưa trở về ngục
thất chờ lệnh. Qua hôm sau, Giản mời nước thết đãi Tuấn tử tế. Giản cho
biết là trong triều còn có nhiều quan còn có ác cảm và hoài nghi với đạo.
Giản cho biết ý của triều đình và nhà vua cũng muốn làm lơ, nhưng "các
tỉnh dâng sớ tâu xin đối xử cay nghiệt với đạo này". Giản đề nghị Tuấn
nên làm nhiều tập điều trần nữa, nói rõ căn nguyên, để triều đình cứu xét.
Sau khi đọc xong bài điều trần, Tự Ðức hạ lệnh cởi gông xiềng và ban thưởng
cho Tuấn; các quan trong triều ai nấy đều kinh ngạc. Sau sắc dụ 1860, các
nhà tù ở Huế đầy ấp công giáo. Tuấn được ân huệ đến thăm họ. Ðứng trước
tình hình miền Nam bị chiếm, miền Bắc bị loạn, vua có ý muốn hòa; Tuấn
có làm 2 tập điều trần dâng lên vuạ Xem xong, Tự Ðức ưng thuận hạ chỉ tha
nam phụ lão ấu bị giam và cho họ lui về quê quán. Trong lúc triều đình
xôn xao về việc ký hòa ước, không biết cử ai làm đại sứ. Lâm Duy Hiệp hỏi
ý kiến Tuấn thì Tuấn đề nghị Hiệp dâng sớ để đi và Tuấn sẽ tuần hành với
Hiệp. Hòa được thì tốt, không thì lui rạ Lâm Duy Hiệp vào tấu cùng Tự Ðức;
Tự Ðức ban sắc hạ y như lời xin. Từ đó, Tuấn lui vào Hoàng thành để thương
thuyết và bàn bạc với Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp. Vào 22/5/1862, Giản,
Hiệp và Tuấn vào Saigon. Nội chiến ở Bắc Kỳ - Giặc Lê Phụng : Dưới thời
Tự Ðức, trong khi trong Nam đang có rối loạn thì ở Bắc Kỳ có giặc Tam Ðường,
giặc Châu Chấu, giặc Khách và giă .c Lê Phụng. Giặc Lê Phụng có liên hệ
với công giáo ? Theo Schreiner ("Abrégé de l'Histoire d'Annam") thì Lê
Phụng là người công giáo có học ở Penang, Mã Laị Lúc liên minh Pháp - Tây
Ban Nha đánh ở Cửa Hàn thì Phụng làm việc trong doanh trại nàỵ Phụng có
viết thơ ra Bắc nói rằng Pháp-Tây sẽ giúp ông dấy loạn chống lại Tự Ðức.
Những sự kiện trên về Lê Phụng có thật hay không thì không ai quả quyết
được, nhưng có một điều chắc chắn là vào năm 1862, Phụng có mặt tại Bắc
Kỳ và chỉ huy một đạo quân 20,000 người chống lại quân triều đình của Nguyễn
Ðình Tân. Sau khi làm chủ được các tỉnh miền Ðông của Bắc Kỳ nhờ khéo léo
liên kết với giặc Tàu Ô ở biển, giặc Khách cùng các giặc nhỏ trong vùng,
thì Phụng có gởi sứ đến Saigon để yêu cầu Bonard giúp đỡ; nhưng Bonard
khước từ vì ông ta đang trong giai đoạn thương lượng với triều đình Huế.
Sau khi rảnh tay với Pháp, Tự Ðức ra lệnh Nguyễn Tri Phương ra Bắc dẹp
loạn. Phụng cầm cự đến mãi năm 1885; muốn cuộc nổi loạn có kết quả, Phụng
đã mang 500 chiến thuyền đánh mạnh vào kinh đô Huế, nhưng một trận bão
đã tiêu diệt thuyền bè; Phụng bị bắt. Vài sách sử đã cho việ)c Phụng nổi
lên chống Tự Ðức là một chứng cớ khác cho biết người công giáo là những
bọn phiến loạn làm tay sai cho ngoại quốc. Phụng là người công giáo, nhưng
khi nổi loạn, Phụng đã lấy danh nghĩa là con cháu nhà Lê hô hào dân chúng
lật đổ nhà Nguyễn, vì dân chúng ngoài Bắc còn luyến tiếc nhà Lệ Theo Trần
Công Hoán ("Tiểu Sử Cụ Sáu Trần Lục") thì trước kia Phụng tên là Tạ Văn
Phụng và lúc khởi nghĩa đổi tên là Lê Duy Minh. Phụng nổi loạn là việc
riêng của Phụng và không có một giám mục nào khuyên bảo ông phải khởi nghĩa.
Nhưng chuyện tréo cẳng ngỗng là Phụng lại là công giáo cho nên có việc
gáng cho công giáo như trên. Cao Bá Quát, một nho sĩ có tài, vì bực tức
triều đình mà nổi loạn chống Tự Ðức; Quát bị bắt và bị trảm quyết. Như
vậy ta khó có thể quả quyết là tín đồ nho giáo đứng lên chống Tự Ðức. Trong
lúc Phụng chiếm hầu hết đồng bằng Bắc Việt và nếu người công giáo dưới
sự dìu dắt của linh mục Trần Lục mà liên kết với Phụng thì liệu Trấn Thủ
Lạng Sơn có chống nổi Phụng hay không ? Thế mà Phan Xuân Hòa ("Lịch Sử
Việr)t Nam") lại viết :"Vả chăng sự dẹp loạn Lê Phụng và Phan Bá Vành ở
Bắc cũng đã đem về triều đình chứng cớ dân theo đạo giúp Phụng, Vành chống
triều đình. Hơn thế nữa triều đình đã nghe từ trước : Anh đã chiếm được
...n Ðộ, Hoà Lan chiếm được Nam Dương đều nhờ quân thầy tu (priest soldiers)
cho nên cấm đạọ Triều đình muốn ngăn ngừa sự xâm lăng của Pháp". Thật ra,
không biết vì sao Phan Xuân Hòa lại viết được như thế, vì vào lúc đó, Anh
và Hòa Lan đã theo Protestantism thì làm gì mà có "quân thầy tu" ? Thật
ra, triều đình cấm đạo đâu phải vì ngăn ngừa Pháp xâm lăng mà bởi vì triều
đình của nước ta vào lúc này gồm những hạng nhà Nho chỉ biết lý thuyết
Khổng Mạnh và cho các thứ khác là tà thuyết và thẳng tay trừng trị Muốn
giết người công giáo Việt thì cần phải có lý do, và họ đã tạo ra lý do
: "Công giáo theo Tây". Lối lập luận dễ dàng này được thấy áp dụng sau
này; khi muốn thủ tiêu ai thì cứ cho là gián điệp, tay saị Mặt khác, việc
bắt đạo chỉ là một dịp khiến cho ngoại bang xâm lăng nước ta và nguyên
nhân chính là tham vọng mở mang bờ cõi thuộc địa. Tình hình dòng Ða-Minh
(1858-1862) và tội ác ở Nam Ðịnh : Không khác với các dòng tu khác, dòng
Ða-Minh cũng chịu nhiều thảm kịch, nhất là tại các địa phận Trung Bắc Việt
(Nam Ðịnh, Hưng yên) và Ðông Bắc Việt, là nơi mà dòng này coi sóc. Theo
Giám mục Theurel, tại Hưng yên, con nit' 5-6 tuổi cũng phải mang gông như
người lớn. Các làng nào có nhiều công giáo bị giết sẽ được quan thưởng
tiền. Dân công giáo trong làng muốn đi làm thuê phải bước qua Thánh giá
và chối đạo, nếu không thì bị đuổi ra khỏi làng. Sau khi các giám mục như
Garcia, Ochoa bị giết thì dòng này như con thuyền không lái; họ chỉ còn
lại 2 linh mục : Gaspar Fernandez Nghĩa (Nghĩa là tên Việt) và Manuel Rianho;
vào 1862, nhiều linh mục VN của dòng này lần lượt bị xử tử. Sắc chỉ mới
vào 8/1861 được tuân hành từng chữ trong toàn cõi VN. - các tháng cuối
năm 1861 sang 1862, cơn thịnh nộ và căm thù như nung nấu các quan hạ thần
của Tự Ðức; họ có vẻ thách thức thi đua xem ai trong họ thi hành chỉ dụ
kia một cách tàn ác nhất và ai trong họ giết được nhiều công giáo nhất.
Riêng tại địa phận Trung Bắc Việt, linh mục Manuel Estevez Nam (Nam là
tên Việt của Estevez) viết :"...Tháng 5/1862, vua Tự Ðức ban bô ' sắc lệnh
truyền chém đầu mọi người đàn ông công giáo từ 10 tuổi trở lên... Bổn đạo
đã bị bắt quá 3, 4 chục ngàn. Cuối năm 1862, sắc lệnh tung ra và được tuân
hành lập tức. Quan Trấn Thủ Nguyễn Ðình Hưng đã tỏ ra dã man đến cực độ..
Như vài nơi khác, khi công giáo bị "phân sáp" thì quan còn cho phép bán
nhà cửa để chi tiêu, nhưng trong tỉnh Nam Ðịnh thì công giáo bị đuổi ra
khỏi nhà, bị trói từng nhóm 5 người, chỉ cho đem theo mấy nắm gạo đủ ăn
cho 2 ngày. Ðược cử đi dánh giặc Lê Phụng, nhưng thất bại, Hưng liền cáo
bệnh về tỉnh và mang mối thù công giáo. Lúc đó ở Nam Ðịnh có 300 công giáo
bị giam, Hưng ra lệnh không được tiếp tế lương thực cho họ Theo Ravier
("Sử Ký Hội Thánh"), chỉ có mấy ngày thô i, hầu hết đã chết trong ngục.
Thấy không còn công giáo để hành tội, Hưng kêu gọi các huyện giải các tù
công giáo về tỉnh. Thấy giặc Lê Phụng càng ngày càng mạnh, Hưng đổ giận
trên công giáo đang bị giam bằng cách thiêu sống, trảm quyết, hay trói
từng cặp rồi dìm xuống sông. Có ngày Hưng chém 20 người, có ngày ông trói
100 người rồi bỏ xuống sông. Khi thấy Hưng ung dung say máu, các quan khác
cũng bắt chước theo bằng cách chém, thiêu sống trong ngục và trói bỏ xuống
sông các công giáo nằm trong tay họ. Có lần 150 người công giáo phải bị
xử trong một lúc, các lý hình vừa chém và vừa trói quăng xuống sông. Lý
hình làm không xuể; con sông thì nhỏ hẹp, có kẻ tháo được dây, lội được
lên bờ, họ bị bắt lại, buộc lại từng 2 người một rồi bỏ xuống giếng cho
chắc ăn. Ba cái đầu của dòng Ða-Minh rơi : Jeronimo sinh ngày 30/12/1800
tại Tây Ban Nha. Sau khi được thụ phong linh mục, ông được phái tới VN
truyền đạo vào 1828. Vừa tới VN, Jeronimo được mang tên Vọng, có nghĩa
là "trông mong" và đã bước ngay vào thế giới bắt đạo, nhưng ông lại là
nguồn sức mạnh và an ủi cho những người Việt xấu số. 20 năm sau, vào 1848,
Jeronimo được phong làm giám mục vùng Ðông Bắc Việt và Retord, phía Tây
Bắc Việt. Retord trốn được sang Manila để được thụ phong, còn Jeronimo
phải đợi Retord trở về để truyền chức cho. Công tác đầu tiên của giám mục
Jeronimo là liệu có ngay một số linh mục mới để đối phó với tình thế. Theo
Marcos Gispert ("Historia de las Misiones Dominicanas"), thì Jeronimo phải
bỏ tên Vọng vì tên này đã quá quen thuộc với quan binh, và lấy tên là Liêm.
Trong suốt thời gian từ 1841 tới 1859, Liêm đã thụ phong cho 3 phó giám
mục và ít nhất là 7 linh mục VN. Dụ cấm đạo 1859 hứa sẽ thăng quan tiến
chức cho kẻ nào bắt đư ợc Gia-Tô đạo trưởng và được thưởng 300 lạng bạc;
do đó người ta thích truy lùng người công giáo. Liêm phải lẩn tránh tại
Thọ Ðức trong một căn hầm sâu, sình lầy, thiếu hơi. Chỉ vào đêm, người
ta mới kéo ông ra khỏi hầm; nhiều lúc kéo lên thì ông vừa ngất xỉụ Không
bao lâu, chỗ trốn bị lô, Liêm đã chạy đến họ Thủy Cơ, rồi xuống một thuyền
câụ Chiếc thuyền đưa ông qua cửa Hải Dương, và ở nơi đây ông lại gặp giám
mục Ochoa Vinh và cha Almato Bình. Sau đó họ chia taỵ Liêm giả sống làm
nghề chài lưới để có dịp đi thăm giáo dân. Liêm sống nhờ vào một gia đình
một thờI gian, nhưng ngày kia gia đình này có đứa con trai tức giận với
cha mẹ, đi tố cáo 2 ông bà về tội chứa Tây Dương Ðạo Trưởng. Liêm bị bắt
vào 21/10/1861. Ochoa và Almato cũng bị bắt. Ngày 1/11/1861, cả 3 thừa
sai bị xử tử. Linh mục Diez O.P. kể lại : "Nơi xử đã trải ra 6 chiếc chiếu,
3 cái chăn. Jeranimo quì trên một cái chăn. Ochoa và Almato quì bên cái
chăn kia cùng hàng. Quan đóng 3 cái cọc và trói chặt 3 ông lạị Quan đọc
bản án : "Ðạo Trưởng Tây Dương trá hình giảng đạo để cướp nước ta. Vì thế
các ông này phải bị xử tử và đạo Gia-Tô bị cấm. " Sau đó có tiếng phát
từ loa : Bớ dân chúng, nếu thấy ngườI nào tỏ vẻ xót thương hoặc thấm lấy
máu những người bị xử này, thì lập tức phải bắt lấy nạp cho quan. "Sau
3 hồi chiên đánh lên, 3 người lính vung kiếm chém đầu. Ðoạn các quan truyền
cho dân chôn xác. Khi các quan ra về, dân chúng còn lại, dầu có đạo hay
không, cũng tranh nhau thấm máu các vị tử đạọ.. "Người ta lấy 3 cái chăn
bọc 3 cái xác để nằm tại chỗ, còn 3 cái đầu, thì quan truyền cho dân đem
bêu ở bến đò Hàn, canh giữ hết 3 ngày và sẽ liệng xuống sông." Một viên
Chánh Tổng sẵn có cảm tình với công giáo có dịp đi ngang qua bến đò đã
tìm cách tráo 3 cái đầu và đem giao cho giáo hữu xứ Yên Dật. Hoà ước Nhâm
Tuất (5/6/1862) : Trong khi Trương Công Ðịnh hay Trương Ðịnh (Quản Ðịnh)
phát động phong trào kháng chiến ở Gò Công thì có một số quan ở Vĩnh Long
tham dự, nên vào 20/3/1862, Bonard đem 1000 quân đánh Vĩnh Long và vào
ngày 23/3/1862, Bonard vô thành. Tháng 4/1862, Mỹ Tho thất thủ. Trong khi
đó, tại Chợ Lớn, quân kháng chiến nổi lên đốt phá; một số người Tàu giúp
việc cho câu lạc bộ hải quân của Pháp đã bỏ thuốc độc vào thức ăn. Trong
lúc Bonard đang ở trong tình trạng khó khăn thì phe chủ hòa trong triều
đình đã làm cho Tự Ðức siêu lòng thông báo cho Pháp biết là muốn điều đình.
Bonard sai người đi gặp đại diện của triêu đình đưa điều kiện nghị hòa,
hẹn 3 ngày phải điều đình xong và nộp trước 10 vạn quan tiền. Tự Ðức sai
Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp và linh mục Ðặng Ðức Tuấn vào Nam để giảng
hòa với Pháp. Trong các trận thương lượng giữa Việt Nam - Pháp - Tây Ban
Nha, đầu tiên Pháp đòi 500,000 lạng bạc và giao 6 tỉnh nhưng Ðặng Ðức Tuấn
bàn cùng Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bồi thường thì chịu nhưng không
giao các tỉnh thành. 2 sứ thần yê u cầu Pháp đổi lại khoảng bồi thường
và khoảng giao cho vừa phải. Sau cùng VN nhường cho Pháp 3 tỉnh miền Ðông
gồm Biên Hoà, Gia Ðịnh và Ðịnh Tường và bồi thường 4 triệu đồng binh phí,
trả trong 10 năm, mỗi năm 400,000 đồng; Pháp trả lại tỉnh Vĩnh Long khi
nào trật tự được vãn hồi. Trong 12 điều khoản của hòa ước chỉ có một khoản
nói về tự do tín ngưỡng (NgườI Pháp và Tây Ban Nha được phép truyền đạo
Gia-Tô trong nước Ðại Nam, ai muốn theo, được tự do theo; ai không muốn
theo cũng không được ép). Như thế rõ ràng là cuộc viễn chinh này là một
việc chiếm cứ đất đai hơn là chỉ vì mục đích đạo đức và tôn giáo (Louvet
: "La Cochinchine Religieuse"). Tuy Tự Ðức rất buồn phiền về chuyện này,
nhưng ông và triều đình phải chấp nhận những điều kiện nặng nề; lý do là
Tự Ðức muốn rảnh tay để đối phó những cuộc nội chiến xảy ra ở Bắc Kỳ. Quả
vậy, sau khi yên với Pháp, Tự Ðức tung hết quân ra Bắc. Lê Phụng bị bắt
và bị xử lăng trì (phân thây, xé xác). Vụ Phụng nổi loạn đã đặt Tự Ðức
vào hoàn cảnh 2 đầu thọ địch và nhờ đó Pháp có được hòa ước 1862. Việc
ký kết với Pháp làm mất 3 tỉnh miền Ðông đã làm vài nhà viết sử công kích
Tự Ðức và Phan Thanh Giản vì họ cho 2 ông đã mở đường cho thực dân vào
VN và cũng là nguyên nhân cho chiến tranh ý thức hệ về sau, khiến cho VN
ngày nay vẫn không ngoi lên được vũng lầy tăm tối. Tuy nhiên, đọc sử từ
đây về sau, ta sẽ thấy đây là trường hợp chẳng đặng đừng trước cái thế
nước nhà phải mất mà nguyên nhân phức tạp đã có từ xa xưa. Ðến khi mất
đất rồi, thì tình thế đã bối rối càng bối rối thêm, mỗi người vội đi tìm
cách cứu chữa để tạo nên những va chạm giữa kẻ theo tâ n trào và kẻ bất
cộng tác, làm cho đau thương cứ chồng chất hơn lên, rồi khinh ghét, thù
hận lẫn nhau. Ngoài ra, có gì quyết đoán được những người chìa tay hợp
tác với thực dân đều là những người bán nước, xấu xa và đê tiện ? Cũng
như có gì khiến ta đinh ninh được những người quyết tâm chống đối thực
dân đến cùng, đều là những người đi đúng đường để đưa nước nhà tới tiến
bộ ? Ðọc sử vào đoạn này sẽ cho thế hệ sau có cái nhìn tại sao nước nhà
đi đến chỗ rơi vào những hố sâu kỳ thị tôn giáo, giai cấp, địa phương,
cũ mới,... Kết quả đã đưa tới một xã hội lúng túng và lẩn quẩn, gây oán
thù lẩn nhau.
Tình hình chung của công giáo từ 1858-1862 : Theo
Louvet ("La Cochinchine Religieuse"), chỉ trong 4 năm đã có 115 linh mục
người Việt bị tử hình, 50 nữ tu bị thiêu sống, 2000 nữ tu phải tản mát
và 100 nữ tu khác đã bị giết. 10,000 quan viên trong các họ đạo bị bắt
giam, hơn một nữa bị xử tử. Một số lớn công giáo Bắc Việt chết vì đói.
Lúc Pháp - Việt ký hòa ước 1862 ở Saigon, nhận thấy rằng không sớm thì
muộn phải thả ngươ `i công giáo, nên các quan cố ý "để quên" họ trong ngục,
do đó một số đã chết vì đói. 2,000 họ đạo đã bị san thành bình địa, ruộng
đất được cắt cho người lương. Có tất cả 300,000 người công giáo bị phân
sáp. Trong một gia đình, cha me bị đi đày, kẻ đi Bắc, người vô Nam., con
cái ở nhà người lương. Cũng theo Louvet, trong 300 năm bắt đạo, có tới
200 linh mục bị giết, nhưng chỉ dưới thời Tự Ðức từ 1858-1862 có tới 115
linh mục bị xử tử. Như thế cũng đũ cho hậu thế thấy Tự Ðức đã đem toàn
lực để tiêu diệt cho kỳ được đạo Gia-Tô. Trong vụ phân sáp, có tới khoảng
50,000 công giáo bị giết. Thật ra, đây chỉ là bước đầu mà thôi. Tình hình
công giáo và chính trị từ Hiệp Ước 1862 tới phong trào Văn Thân (1868)
Tự Ðức ân xá (1862) : Sau khi ký hiệp ước xong,
tuy không nói gì tới điều khoản tự do tín ngưỡng, nhưng Tự Ðức chỉ tuyên
bố nhân ngày sinh nhật ông ân xá cho các tù nhân : "Ðã từ lâu, một lớp
ngu dân theo tà đạo, mặc dù Trẫm đã ban lời khuyên dạy nhưng bọn côn đồ
vẫn chưa ra khỏi giấc mơ. Lúc chúng chối đạo ngoài miệng, chúng chỉ làm
việc dối trá. Trẫm đã ra lệnh các Trấn Thủ các tỉnh giam các chức dịch
cứng đầu, Trẫm cũng đã truyền phân-sáp ngay các bọn công giáo trong các
làng lương dân để chúng có dịp cải tà quy chánh. "Vì chúng đã cải hóa một
phần nào nên Trẫm thương đến bọn chúng. Do đó, và cũng nhân ngày lễ sinh
nhật của Trẫm, Trẫm truyền lịnh dù ở kinh đô hay ở các tỉnh, phải phóng
thích cho các ông già, các phụ nữ và trẻ con, mặc dầu những người này đã
bước hay chưa bước qua Thánh giá. Cũng phải phóng thích tất cả những chức
dịch công giáo đã thành thực xuất giáo, nhưng nếu chúng thuộc về những
làng toàn là công giáo, mặc dù chúng bỏ đạo, chúng vẫn phải ở nơi hiện
chúng bị giam giữ. "Phải trả lại cho người công giáo nhà cửa, ruộng nương;
chúng được miễn thuế thân. "Những chức dịch chưa xuất giáo và những thanh
niên không chịu bỏ đạo vẫn còn phải giam giữ cho đến lúc chúng chịu chối
đạo." Khi các người công giáo (người già, đàn bà, trẻ con) về tới làng
thì có một sắc dụ thứ hai ra lệnh cho các quan cứ 2 năm phải đòi giáo hữu
đến để khuyên họ xuất giáọ Tự Dức tuyên bố : "Mặc dù ta cho phép dân theo
đạo công giáo, nhưng như thế không phải là ta không có quyền khuyên dân
từ bỏ tà đạo để theo những lề lối của nước nhà." Tự Ðức khuyên mà không
theo thì có nghĩa là ở tù. Sau đó, ông đổi chiến thuật qua việc ra một
sắ dụ ngăn không cho người lương theo đạo. Những người chạy trốn trong
thời kỳ Phân Sáp không bị khắc chữ Tả Ðạo, những người đã chối đạo, tất
cả đều bị quan quân dùng vũ lực không cho trở lại đạo. Ðối với người có
đạo gốc thì họ không được đọc kinh lớn, không được hội họp quá 100 người
nếu không có giấy phép. Cai tổng và lý trưởng được đến dự các lễ nghi và
về làm báo cáo. Các người công giáo trong thời này trở nên nghèo túng vì
Tự Ðức không cho họ giữ chức vụ nào trong làng, trong tỉnh. Theo một sắc
luật thì tất cả thanh niên trên 20 tuổi phải khai tên để nhập ngũ và đi
làm lao công. Theo luật, mỗi làng chỉ ghi một sô ' thanh niên đi làm 2
công việc này, nhưng để phá tuyệt các làng công giáo, tất cả các thanh
niên của các làng này đều bị đi làm các công việc trên. Mặt khác, các thừa
sai không được ở riêng mà phải ở trong tỉnh đường thuộc quyền giám sát
của Trấn Thủ. Cứ 5 ngày họ phải trình diện. Muốn đi đâu phải có giấy phép.
Chỉ có những ai có khắc chữ Tả Ðạo mới được vào nhà tiếp xúc các thừa saị
Cấm ngặt làm việc tôn giáo ngoài nhà đã chỉ định. Cấm ngặt tụ họp hơn 100
ngườị Cấm giảng đạo cho người lương. Ðó là cách mà Tự Ðức hứa với Pháp
về việc tự do tín ngưỡng. Ðể giải thích, triều đình Huế biện minh rằng
sở dĩ họ làm như vậy là để bảo vệ tính mạng các thừa sai trước mặt các
chính phủ Pháp và Tây Ban Nha.
Vào cuối 1862, sau khi dẹp loạn ngoài Bắc xong,
Tự Ðức tìm cách sát hại công giáo một lần nữa. 2. Phan Thanh Giản sang
Pháp (1863-1864) : Không tán thành Hòa ước 1862, Trương Công Ðịnh, đã tổ
chức chống Pháp ở Gò Công. Cùng lúc đó, triều đình Huế đòi Pháp trả lại
tỉnh Vĩnh Long, nếu không thì hòa ước trên không thể duyệt y trong vòng
một năm. Bonard trả lời rằng nếu Huế muốn lấy lại Vĩnh Long thì họ phải
bắt Quản Ðịnh và giải giáp gấp. Cuộc đàm phán gần đến chỗ tan vỡ. Ngày
2/12/1862, sau khi nộp tiền về bồi khoảng chiê 'n tranh cho Pháp, triều
đình Huế đòi lấy lại 3 tỉnh miền Ðông đã mất, nhưng Pháp đòi nội trong
một tháng, Huế phải duyệt hòa ước.
Ngày 16/12/1862, chiến tranh lại diễn ra ở Saigon,
Biên Hòa, Mỹ Tho, Bà Rịạ Vào tháng 2/1863, quân của Quản Ðịnh bị bao vây
ráo riết ở Gò Công. Vào lúc này, đại úy Tricault mang đến VN bản Hòa Ước
1862 có chữ ký của vua Pháp. Ðô đốc De la Grandière sang thay thế cho Bonard.
Trước khi đi, Bonard hăm dọa triều đình Huế bắt phải ký ngaỵ Vào 2/4/1863,
Bonard kéo phái bộ ngoại giao ra Huế và họ đã ký kết vào 14/4/1863. Ngày
19/4/1863, Bonard rời VN về Pháp và chết 6 năm sau đó. Phan Thanh Giản
được lệnh dẫn đầu phái đoàn gồm Tả tham tri bộ Lại Phạm Phú Thứ, Án sát
tỉnh Quảng Nam Ngụy Khắc Ðản và 63 tùy viên trong số có linh mục Nguyễn
Hoàng (Sinh 1839 ở Hà Tỉnh, học ở Penang; sau này phục vụ cho triều đình
lên tới quan Phụ tế đại thần vào 1886) và Pétrus Trương Vĩnh Ký (sinh 1837
tại Cái Mơ n, Bến Tre; học trường Penang và biết nhiều thứ tiếng như La-
Tinh, Hy Lạp. Pháp, Anh, Tàu và Nhật). Họ tới Pháp vào 9/1863. Sứ mạng
của họ là mua chuộc lại 3 tỉnh đã mất. Sau một tháng tới Pháp thì họ mới
được Napoléon III tiếp kiến. Theo "Việt Sử Toàn Thư" thì vua Pháp đã nói
:"Nước Pháp rất khoan hồng với mọi quốc gia và sẵn sàng bảo vệ các dân
tộc hèn yếu, nhưng rất nghiêm khắc với những ai ngăn trở bước đi của nước
Pháp." Lúc này, tại Pháp tình hình cũng lắm rối ren, nên việc vùng Viễn
Ðông không còn được ưu tiên nữa, ngoại trừ 2 tờ báo L'Union và Le Monde
cứ lải nhải bắt chính phủ giữ lại đất đai. Phan Thanh Giản đã gặp được
dịp may này nên sau khi thương thuyết, vua Pháp đồng ý trả lại 3 tỉnh miền
Ðông, đồng thời tu chính lại hiệp ước 1862. Sau khi trở về, Phan Thanh
Giản được cử làm kinh lược sứ 3 tỉnh miền Tây Nam Việt. Lúc đó tại Pháp,
chính giới và vua đô `ng ý về một chế độ chiếm hữu thu hẹp (giữ lấy Saigon,
Chợ Lớn, Vũng Tàu, giải đất hẹp dọc theo sông Ðồng Nai, bảo hộ 6 tỉnh Nam
Kỳ còn việc trực trị thì cho là quá phiền toái). Kế hoạch này được chấp
thuận và giữ bí mật; phần lớn của kế hoạch này đều phát xuất từ ý kiến
của Trung úy Aubaret, người theo Thủy sư Ðề đốc Bonard trong cuộc hòa đàm
5/6/1862. Vào 5/ 1864, Aubaret và Charles Duval tớI Huế và vào 15/7/1864,
Aubaret "ký thuận" về việc cho chuộc lại 3 tỉnh miền Ðông và hứa trình
về Pháp để lấy chữ ký của Napoléon IIỊ Theo đó, Pháp chịu trả lại VN 3
tỉnh miền Ðông; bù lại VN phải nhường cho Pháp Saigon, Cô n Ðảo, Mỹ Tho,
các cửa sông Tiền và Hậu; các giáo sĩ được tư . do vào VN truyền đạo và
được miễn tài phán, nghĩa là VN không có quyền hỏi tội hay bắt bớ mà phải
giao hoàn về Pháp để nước này quyết định; nước Nam phải để nước Pháp được
quyền bảo hộ cả 6 tỉnh Nam Kỳ và đóng mỗi năm một số tiền thuế. Tuy nhiên,
bản giao kèo chỉ là lời hứa hão huyền về phía Pháp vì bên Pháp có nhiều
người không muốn trả lại đất. Năm 1864, Chasseloup Laubat dâng sớ yêu cầu
vua nhất định không cho chuộc lại 3 tỉnh; vua Pháp xuống chỉ giữ hòa ước
1862 mà thi hành. Trong lúc này, Cao Miên đã ký nhìn nhận chế độ bảo hộ
của Pháp vào ngày 11/8/1863 và bí mật ký nhường cho Xiêm La 2 tỉnh Angkor
và Battambang. Miên có một vị sư tên là Pu-Cam-Bo đã nổi lên kháng Pháp
và chống lại vua Norodom; nhưng sau cùng ông lạibị đồng bào của ông bắt
và giết vào tháng 7/1867 để lấy công với Pháp. Pháp bắt đầu nghĩ đến việc
chiếm đoạt nốt 3 tỉnh miền Tâỵ Về phía triều đình Huế, họ cũng chuẩn bị
quân sự để đối phó. Tổng Ðốc Vĩnh Long mật tấu là Pháp có thể tiến binh
đánh Vĩnh Long, và tương lai của An Giang và Hà Tiên rất bấp bê nh. Trước
và sau khi hoà ước 5/6/1862 ra đời, ở miền Nam có nhiều cuộc nổi dậy: a.
Cuộc khởi nghĩa của Lãnh binh Trương Công Ðịnh (Trương Ðịnh) ở Gò Công,
Tân An, Chợ Lớn. Về sau, Ðịnh bị Huỳnh Công Tấn phản và bị tử thương. b.
Cùng thời với Ðịnh, Nguyễn Trung Trực tức Quản Lịch nổi lên ở Tân An, Chợ
Lớn, Vĩnh Long và Kiên Giang. Tháng 12/1861, Trực và nghĩa quân đã đốt
được chiến thuyền L'Espérance của Pháp trên vàm Nhật Tảo (1ơ/1861), bêu
đầu thuyền trưởng và thủy thủ. Sau này ông chiếm lại thị xã Rạch Giá, giết
nhiều giặc Tâ y, cuối cùng bị bắt và bị tử hình. c. Nguyễn Hữu Huân tức
Thủ Khoa Huân khởi nghĩa tại Mỹ Tho, Mỹ Quí, Tam Bình, Thuộc Nhiêu, Rạch
Gầm, Cai Lậy, cầm đầu nghĩa quân trên 1000 người, dùng chiến thuật du kích
chống Pháp tại că n cứ Ðồng Tháp Mườị Do chính sách bất nhất của nhà vua,
Huân bị bắt nộp cho Pháp (1864), bị đày sang đảo Réunion, sau được â n
xá. Vào năm 1866, De la Grandière dốc toàn lực thủy bộ binh mới phá tan
được căn cứ của ông. Vào 1875, sau khi Pháp hoàn thành việc chiếm Nam Kỳ,
Huân lại khởi nghĩa, lại bị bắt và bị hành hình ở Cai Lậy (15/4/1875).
Ngoài ra cần phải kể tới Võ Duy Dương tức Thiên Hộ Dương ở Ðồng Tháp Mười,
với số quân ít ỏi nhưng làm quân Pháp tử thương rất nhiều; Dương bị bịnh
mà chết. Chánh quản cơ Trần Văn Thành nổi lên ở An Giang... Ða số đều theo
lịnh vua mà khơ ?i nghĩa, nhưg những cuộc khởi nghĩa này bị bó buộc trong
vòng điều đìh. Khi thì có lệnh đánh, khi thì có lệnh thôi, khi thì có lệnh
rút đi, lệnh trên thì tiền hậu bất nhất. Phan Thanh Giản lại còn khổ tâm
hơn vì ở trong thế trên đe dưới búạ Vào 8/1862, Giản phải ra lệnh cách
chức Trương Dịnh và sai chánh quản Trần Văn Thành ở An Giang đem binh sang
Ðồng Tháp Mười tróc nã Thiên Hộ Dương. Tổng Ðốc Phan Khắc Thân ở An Giang
theo lê .nh triều đình bắt giam Thủ Khoa Huân vì không tuân lệnh ngưng
chiến; Huân bị bắt và giao cho Pháp. d. Vào 8/1864, 5000 thí sinh khóa
thi Hương tại Nam Ðịnh tự động bãi khóa đòi vua Tự Ðức phải cấp tốc ra
quân để chiếm lại Nam Kỳ, đồng thời quay sang chém giết dân công giáo mà
họ qui tội là "rước voi về dày mả tổ". e. Vào 9/1864, tại kinh thành, nhóm
chủ chiến âm mưu lật đổ Tự Ðức, nhưng bị thất bại. Nhiều việc đã xảy ra
dồn dập vẫn không thay đổi được ảo mộng của Tự Ðức là Pháp sẽ bỏ Nam Kỳ,
như đã bỏ Quảng Châu của Tàu.
3. Nguyễn Trường Tộ : Theo Lê Văn Siêu ("Văn học
sử thời kháng Pháp : 1858-1945"), nguyên cớ của cuộc xâm lăng là thị trường,
là thực dân địạ Nhưng lớp sơn hào nhoáng của chính nghĩa bên ngoài là cứu
vớt giáo sĩ, giáo dân, đòi quyền tự do truyền đạo, tự do thông thương,
khiến cho những người công giáo chân thành yêu nước đành bất lực và mang
một nổi oan chưa từng có của lịch sử. Tiêu biểu nhất cho đám người này
là Nguyễn Trường Tộ. Ông là một nhà Nho xứ Nghệ, chỉ vì theo đạo Gia Tô
mà các bản điều trần thật hay, thật đúng để xin cải cách, tuy hơi muộn
vì đất nước đã bị chiếm một mảnh, đã bị bác bỏ. Tộ đã bị nghi ngờ là "một
dạ, hai lòng" và triều dình đã đành đoạn xếp các bản điều trần của ông
vào một xó. Không cam tâm, ông liên tiếp dâng lên những phương cách cứu
quốc và kiến quốc. Vua càng cố chấp và càng nghi kỵ ông nhiều hơ n. Cuối
cùng ông đã viết những lời rất đau thương :"Tôi sắp chết rồi đây, tôi bị
bệnh tê bại đã liệt người mà vẫn nă `m ngửa mặt để cố viết bản điều trần
cuối cùng nữa, xin vua mau mau tĩnh ngộ..." Vậy mà cũng không đem đến kết
quả gì, khiến ông thổ huyết mà chết (1871), ôm theo mối hận nghìn đời sang
thế giới bên kia. Ngoài ông ra, như đã có dịp nói đến ở trên, ta còn có
những nho sĩ khác như Nguyễn Ðức Hậu, Nguyễn Ðiền của xứ Nghệ có dịp du
học phương Tây, Ðinh Văn Ðiền ở Ninh Bình, Nguyễn Hiệp đi sứ ở Xiêm, Lê
Ðình đi sứ ở Hồng Kông, Phạm Phú Thứ có lần đi với Phan Thanh Giản sang
Pháp, Bùi Viện..., ho. đều dâng tấu chương để thuyết phục triều đình. Tất
cả những lời trần tình đều bị đám hủ nho coi là...không hợp thời. Có lẽ
nước ta đã tới ngày mạt số. Xét về một khía cạnh khác, tinh thần của các
bản điều trần của họ chính là tinh thần văn học xứng đáng nhất, yêu nước
nhất, tiêu biểu nhất cho một dân tộc đang gặp lúc khó khăn chưa từng thấy.
Dù họ thất vọng hoàn toàn, nhưng dựa vào những việc làm tuyệt diệu của
họ, cho dù đã bị mất nước gần 100 năm, ta vẫn không bao giờ thấy nhục cho
lắm, vì còn có những ánh đuốc ấy để người đời sau vẫn hãnh diện là cả nước
không đến nỗi ngu dại quá. Ta trở lại với Nguyễn Trường Tộ. Bàn về tín
ngưỡng tôn giáo, trong bản điều trần ngày 29/3/1863, Tộ đề nghị cho tự
do tín ngưỡng, theo lòng trời, chớ nghiêm cấm đạo giáo vì chỉ gây lòng
oán ghét lẫn nhau trong dân gian. Ông viết : "Từ lúc Thiên Chúa Giáo vào
nước ta...nhiều người tin theo. Lúc bấy giờ, giáo dân với dân tam giáo
khác (Khổng - Lão - Phật), tín ngưỡng tuy có khác nhau, nhưng vẫn ăn ở
với nhau có ân ái, tiếp đãi nhau bằng lễ nghĩa, không có điều hiềm nghi
gì, cũng là người dân của một nước.
Từ khi ban hành điều nghiêm cấm đạo giáo, mới
sinh lòng ghét lẫn nhau, đi ghét bỏ nhau; rồi sinh ra tội lệ; bấy giờ giáo
dân bị rối loạn thất sở, mắc vào vòng tội lỗị Nước vẫn trong, nếu quấy
lên cho động thì mới đục; nếu để yên thì lại trong. Giáo dân cũng là người
dân trong nước, và cũng là dân của Trời; cư xử liên tiếp với nhau, khi
vui, khi buồn có nhau, chẳng lẽ người này động mà người kia yên được sao
? Một nước cũng như một thân người, có một bộ phận nào bị đau thì toàn
thân cũng bị bất an. Tuy ngón tay ngón chân mọc thừa là cực vô dụng, mà
khi cắt đi còn đau huống chi bộ phận hữu dụng..." Tộ còn biện luận tiếp
rằng, theo ông ở các nước Nhật, Cao Ly, Miến Ðiện, Ba Tư, Tây Tạng,...càng
cấm đạo thì tân tòng càng nhiềụ Ông lấy thí dụ ở các nước Pháp, Tây Ban
Nha, vào thời xưa việc bắt đạo rất dữ dội, nhưng giết 10 người thì có hằng
vạn người theo, vua quan rốt cuộc cũng theo tôn giáo ấy... Ông nhìn nhận
rằng trong hàng ngũ giáo dân cũng có kẻ bội nghịch, nhưng chỉ là một phần
trong trăm ngàn phần thôi, cần phâ n rõ là lỗi của người nào thì người
đó chịu, đừng đổ tội cho tất cả. Về phần này ông viết : "Từ cổ tới giờ,
các loạn thần tặc tử, người nào chả có học theo Khổng Mạnh, nhưng cũng
đánh cắp thánh trí của thánh hiền để mà làm thân đạo tặc của chúng, thế
thì lỗi đó tại ai ? Tại người hay tại tôn giáo ? Thế thì cái gì đồng với
mình, dù có sinh ra mối tệ hại thì cũng bỏ qua; cái gì khác với mình, thì
trở nên hà khắc mà vu cho tôn giáo đó là không tốt, vậy công đạo ở chỗ
nào ?" Tộ quả không sợ sắc dụ cấm đạo 1863. Ông là bậc sĩ phu chân chính
và sáng suốt. Tấm lòng yêu nước của nhà nho xứ Nghệ này còn được phản ảnh
qua bài "Khải Trần Tình", trong đó ông đã phơi bày ruột gan những việc
nên canh tân, mong sao cho nước nhà được tiến bộ, theo kịp xứ ngườị Tiếp
theo bài này, ngư ời ta thấy ông gởi đến triều đình :
a. Ðiều trần về tín ngưỡng tôn
giáo (29/3/1863).
b. Ðiều trần về việc cho học
sinh du học ngoại quốc (12/7/1866).
c. Ðiều trần về 6 điều lợi (1/9/1866).
d. Ðiều trần về thời thế (3/9/1866).
e. Ðiều trần về 8 điều cấp cứu
(15/11/1867).
f. Ðiều trần về thông thương
(30/3/1871).
g. Ðiều trần về tu chỉnh võ
bị (19/6/1871).
h. Ðiều trần về tình hình Tây
phương (16/9/1871).
i. Ðiều trần về công chính (4/10/1871).
k. Ðiều trần về nhân tài (14/10
và 12/11/1871).
l. Ðiều trần về kinh tế quốc
gia (20/8/1871).
Nhìn sơ qua các đề tài trên, ta có thể thấy Tộ
đúng là người đi trước thời đại hủ nho, sáng mắt để làm việc lớn, cứu nguy
xã tắc. Ta hãy xem quan niệm của ông về kinh tế quốc gia :"Cha mẹ đối với
con cái, trước là đẻ ra, nuôi lớn lên, rồi dạy dỗ cho biết cách mưu sinh,
để cho thành lập, mới có hy vọng lúc tuổi già. Quốc gia cũng là đại gia
đình của muôn dân, không dạy cho dân cách làm giàu, mà chỉ biết thu lấy
thuế, không dạy cho dân biết cách dưỡng dục, mà chỉ biết đòi hỏi sự cung
cấp mọi khoản, thì gọi là cha mẹ thế nào được ?..."
Theo ông, học không phải để tầm chương, trích
cú, để thi cử, rồi làm quan, rồi trà dư tửu hậu với câu đối, câu đáp hoặc
thơ thẩn, than mây khóc gió... Tộ muốn học như con ong hút toàn những kiến
thức thực dụng, để cho đầy túi khôn, phòng khi gặp chuyện thì ra tài kinh
bang tế thế. Tộ cho rằng học như vậy là học cứu quốc; đây là cái học mà
hủ nho không dám nghĩ tới.
4. Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây Vĩnh Long - An Giang
- Hà Tiên (20-24/6/ 1867) : Nhận được sự bất lực của triều đình Huế, Pháp
tiến hành dần kế hoạch tấn công mạnh mẽ bằng quân sự cho tới khi làm chủ
bán đảo Ðông Dương. Vào 20/1/1865, La Grandière tuyên bố khô ng trả lại
đất cho VN; La Grandière được Chasseloup Laubat mời về Pháp để tham khảo
ý kiến; Thiếu tướng hải quân Roze sang thaỵ Ngày 1/4/1865, Roze tuyên bố
đất Nam Kỳ vĩnh viễn thuộc Pháp.
Trong lúc đó, tuy triều đình Huế cứ còn mong chuộc
lại 3 tỉnh miền Ðông, nhưng vẫn biết thế nào Pháp cũng đánh 3 tỉnh miền
Tây, nên vào năm 1866, sai Phan Than Giản vào làm Kinh lược sứ 3 tỉnh miền
Tây Nam Kỳ để tìm cách chống giữ.
Vào ngày 14/2/1867, De la Grandière cho Trung
úy Monet de la Marek ra Huế đòi tiên bồi thường chiến tranh chưa được thanh
toán đúng kỳ hẹn. Triều đình Huế từ chối và nhân dịp đó tuyên bố là khô
ng bao giờ nhượng 3 tỉnh miền Tây. Sau khi phái đoàn của Trung tướng Varannes
trở về báo cáo về tình hình của Nam Kỳ, Napoléon III ra lệnh xâm lăng 3
tỉnh miền Tây (Hậu giang) của ta.
Từ khi trở lại Việt Nam, Thiếu tướng De la Grandière
đã sửa soạn xong chiến dịch và vào các ngày 17 - 18/6/ 1867, từ Mỹ Tho,
quân Pháp lên đường với 1000 người Âu và 400 lính tập người Việt. Vào ngày
22/6/1867, quân Pháp tiến đánh Châu Ðốc. Trần Văn Thành rút về Tri Tôn
tiếp tục chiến đấu, nhưng ngày 20/2/1872, Trần Bá Lộc hướng dẫn Pháp phá
tan căn cứ của Thành; Thành tử trận, nghĩa quân tan rã. Vào 23/6/1867,
Hà Tiên thất thủ, nhưng Nguyễn Trung Trực rút về đánh Rạch Giá, chiếm đóng
được 7 ngày rồi rút về Phú Quốc. Nguyễn Công Tấn và Ðỗ Hữu Phương dùng
mưu độc bắt mẹ của Trực làm con tin và kêu ông đầu hàng. Trực chịu tử hình
ở chợ Rạch Giá ngày 27/10/1868. Nghĩa quân của ông vẫn tiếp tục chiến đấu
dưới sư . thống lãnh của Ðỗ Thừa Luông và Ðỗ Thừa Tự; cuối cùng đám nghĩa
quân này cũng bị diệt vào năm 1872.
Tại Vĩnh Long, lợi dụng sương mù, quân Pháp và
các pháo thuyền đóng sẵn ở ngoài thành Vĩnh Long bất chợt tấn công quân
ta. Nữa giờ sau, thành thất thủ. Bộ Tham Mưu Pháp nhờ linh mục Legrand
de la Liraye đem tối hậu thơ vào thành buộc phải nộp Vĩnh Long, An Giang
và Hà Tiên. Sau cùng, Phan Thanh Giản vừa uất ức, vừa tức giận vì biết
mình vì quá mê muội nên bao phen bị Pháp phỉnh gạt, nhịn ăn 7 ngày nhưng
không chết, ông phải uống thuốc độc tự vận ngày 7/8/1867, thọ 74 tuổi.
Vua Tự Ðức hay tin, nổi giận về việc thất thủ
miền Tây, liền cho lột hết chức tước của Giản và đục bỏ tên ông ở bia tiến
sĩ. Kể từ đó, đất Nam Kỳ hoàn toàn trở thành thuộc địa của Pháp, thuế má,
luật lệ, điều gì cũng do súy phủ ở Saigon định đoạt.
5. Tình hình công giáo ở miền Nam (1862-1868)
: Trước khi có hòa ước 1862, giám mục Lefèbvre đã bắt đầu tổ chức công
việc trong địa phận Saigon. Các bà phước dòng thánh Phao-lồ đã có mặt tại
đây vào năm 1860. Lefèbvre đã vận động cho các bà phước dòng Carmel lập
tu viện và chấp thuận cho những sư huynh De La Salle đến để giáo dục cho
nam học sinh. Lefèbvre là con người rất điềm tĩnh, hiền lành nhưng có lúc
người ta thấy ông xung giận trước các việc làm bậy bạ của những sĩ quan
Pháp. Chính 4 năm hoà bình, 1860-1864, việc chung sống với những người
đồng hương của ông đã làm ông già hơn so với 25 năm sống dưới thời cấm
đạo. Chán nãn, Lefebvre đã xin tòa thánh được từ chức giám mục và trở về
Pháp vào cuối nă m 1864. Giám mục Miche lên thay ông cai quản địa phận
Saigon. Theo Louvet ("La Cochinchine Religieuse"), có một vụ sát hại công
giáo xảy ra tại Thủ Dầu Một vào năm 1868. Vào 7/1868, tại họ Thị Tính phía
Bắc Saigon, một vị sư tên Thác đã dẫn đầu một toán binh đánh đồn Thị Tính,
giết một hạ sĩ quan, 3 binh sĩ rồi chiếm đồn. Xong xuôi họ đi bắt tất cả
công giáo sống chung quanh đồn và buộc họ xuất giáo. 2 người tân tòng bị
xô ngay vào trong lều đang bốc cháy vì họ không chịu bỏ đạo. Các người
công giáo còn lại, gồm 12 người đàn ông, 4 người đàn bà và 8 trẻ con, bị
đem ra xử trước mặt vị sư kiạ Tất cả bị vứt xuống giếng sau khi đã bị chém...
Cấm đạo dưới thời Văn Thân (1864-1888) Văn Thân
là một hạng người rất sùng bái Nho học trong xã hội ta vào lúc đó; họ cũng
có thể được gọi tạm là yêu nước, nhưng quá khích. Chỉ với một mớ chữ Nho,
họ cho mình văn minh hơn ngư ời, cho cách giải quyết của kẻ khác là saị
Trong "Việt Nam Sử Lược", Trần Trọng Kim phê bình họ :"Nước ta mà không
chịu khai hóa như các nước khác là cũng bởi bọn sĩ phu cứ giữ thói cũ,
không chịu theo thời thế mà thay đổị Nay sự suy nhược của mình đã sờ sờ
ra đấy, thế mà cũng không chịu mở mắt ra mà nhìn, lại vì sự tức giận một
lúc mà làm việc nông nổi, càn dỡ để cho thiệt hại thêm." Ðám người này
lúc đầu chưa được sự đồng tình của vua nên chỉ tàn sát công giáo lẻ tẻ
vài nơi, nhưng sau khi vua Hàm Nghi dẫn đầu phong trào Cần Vương thì cuộc
tàn sát lan tràn từ Trung ra Bắc; riêng ở Nam có người Pháp chiếm cứ nên
Văn Thân không hoạt động được.
1. Hoạt động của Văn Thân trước khi Hàm Nghi chạy
trốn(1864-1885) :
a) Âm mưu nổi loạn của Văn Thân ở Huế (1864-1865)
: Tại Huế, giám mục Sohier đang tổ chức lại cộng đồng công giáo. Triều
đình Huế cực chẳng đã phải tôn trọng tự do tín ngưỡng. Thấy thế, đám Văn
Thân tố cáo Tự Ðức nguội lạnh trong việc nước, hèn nhát nhượng bộ cho Pháp
3 tỉnh ở miền Nam. Saigon là nơi có nhiều lăng tẩm của tổ tiên họ Nguyễn,
nhưng đã nằm trong tay Pháp. Văn Thân dựa vào đó cho Tự Ðức không còn là
Thiên Tử, không còn xứng đáng ngồi trên ngai vàng nữa. Như đã đề cập ở
trên, vào cuối 1864, nhân dịp kỳ thi ở Huế, 4000 Văn Thân âm mưu nổi loạn.
Hầu hết các quan đại thần trong triều và ngay những người trong hoàng tộc
cũng ủng hộ âm mưu này. Theo kế hoạch thì Văn Thân sẽ được võ trang, xong
xuôi họ sẽ đi tiêu diệt các thừa sai và các tín hữu công giáọ Màn thứ hai
là đánh đuổi Pháp ra khỏi Saigon. Vua phải chấp thuận kế hoạch, nếu không
ông sẽ bị truất phế. Theo Louvet ("La Cochinchine Religieuse"), một tờ
sớ do đại diện của nhóm này dâng lên vua kể lại tất cả nỗi khổ của dân
từ mấy năm nay : giặc trong, giặc ngoài, dịch tả, đói khát, mất mùa. Tất
cả đều do bọn công giáo gây ra vì chúng đã cấu kết với ngoại quốc, vì chúng
mà Trời đã xuống họa cho dân Việt. Bây giờ thì còn kịp bằng cách giết cho
sạch bọn công giáo, bằng khô ng về sau, khi chúng đông lên, chúng ta chỉ
còn ngồi mà chờ chết. Còn việc ký kết với bọn phương Tây là việc điên rồ,
không nên để cho dân 3 tỉnh miền Nam sống khổ sở. Phan Thanh Giản và đồng
bọn ký hiệp ước 1862 là những kẻ ngu xuẩn và phản bộị Vì vậy chúng ta không
nên theo chúng.
Ðối với các thừa sai : hãy giết chúng, vì chúng
đã khuyên bảo giáo hữu cầm khí giới chô 'ng lại triều đình. Do sự rộng
lượng của Hoàng thượng mà bọn thừa sai đã vào lại VN; từ ngày đó đến nay,
chúng đã tổ chư 'c những cuộc âm mưu này đến âm mưu khác. Giám mục Sohier
đi Pháp, đó chỉ là tin vịt do bọn công giáo tung ra trong khi ông ta vẫn
còn trốn trên núi với các thầy giảng và các chủng sinh. Hằng ngày, Sohier
dạy cho người công giáo cách xử dụng vũ khí tối tân theo lối Âu Tâỵ Các
thừa sai đem tới các đại bác bằng gỗ vừa mới phát minh ở phương Tây, dân
chúng ở vùng quê đã nghe tiếng đại bác ấy trong những buổi tập dượt . Hơn
nữa, trong khắp các tỉnh, bọn công giáo đã làm hằng ngàn chiếc gông để
đeo vào cổ những người lương không chịu theo đạo công giáo. Với những lý
lẽ trên, Văn Thân yêu cầu nhà vua cho họ khí giới đầy đủ để cứu tổ quốc
đang lâm nguy.
Nếu vua không ban phép, họ sẽ không thi cử gì
nữạ Bây giờ không còn là lúc ngâm thơ vịnh phú, nhưng là lúc phải hành
động. Ðọc xong tờ sớ, Tự Ðức bàng hoàng và cất chức các quan ở Huế đã không
cho ông biết âm mưu này của bọn công giáo. Ðồng thời, ông truyền các Trấn
Thủ các tỉnh thân chinh đi khám xét các nhà công giáo để tịch thu khí giới
và đạn dược. Mỗi xóm làng đều có tổ chức một đội binh không công giáo để
sẵn sàng thi hành mệnh lệnh của triều đình.
Thiết quân luật được ban ra. Ðêm đến, người ta
nghe tiếng trống, tù-và, rồi từng đội lính hì hục rảo bước từ thôn này
đến thôn khác. Các Trấn Thủ tới nhà thờ, nhà công giáo kiểm soát gắt gao,
nhưng họ không tìm thấy khí giới hay đạn dược gì cả; lúc đó họ mới tin
là người công giáo bị vu oan. Tuy nhiên, vì sợ vua và sẵn dịp làm tiền,
họ đã đánh đập bổn đạo để họ lòi tiền ra. Trong lúc đó, thấy triều đình
làm như thế tưởng là ủng hộ phong trào của mình, đám người Văn Thân, đem
luật pháp vào tay, đi dốt nhà của thừa sai Bernard và một nhà thờ tại Huế.
Bernard viết thơ lên huyện, nhưng không ăn nhằm gì; ông lại viết thơ lên
Thượng Thư bộ Lại (Bộ Ngoại giao). Triều đình bối rối và trả lời ông rằng
đó là việc ngoài ý muốn, vả lại bọn cướp quá đông và quá táo bạo, triều
đình chưa dẹp nổi. Sau đó, họ cử người tới canh giữ dinh giám mục. Theo
sự điều tra của triều đình Huế, 7 người đốt nhà bị bắt và họ khai : Văn
Thân âm mưu giết hại người công giáo; truất phế Tự Ðức nếu ông không chấp
thuận kế hoạch. Ðây là lời khai trước tòa, không thể giấu giếm vua, nên
họ phải trình lên vuạ Tự Ðức ra lệnh bắt tất cả thủ lãnh và giết chết.
Những nhóm người thuộc phong trào này không được ra khỏi khu vực mình ở,
bất tuân sẽ bị tù.
b) Tự Ðức tỉnh mộng ?
Sắc dụ 1867 Chỉ trong vòng một thời gian ngắn,
chỗ nào cũng đồn rằng Tự Ðức bênh công giáo, muốn theo công giáọ Rồi bỗng
nhiên có tiê 'ng đồn rằng trong một đêm nọ, Tự Ðức đến họ Kim Long để được
rửa tội và sắp hạ dụ bắt toàn dân theo đạo, tận diệt những người không
theo đạọ Thật ra, đây là sắc dụ ra sau lúc khám phá được âm mưu của Văn
Thân. Dụ này cho thấy phần nào cách nhìn hơi khác về công giáo của Tự Ðức
và có thể đây chỉ là một biểu lộ hòa hoãn về chính trị của ông trước tình
hình mới. Theo Louvet ("La Cochinchine Religieuse"), sắc dụ 1867 này như
sau : "Lúc Trẫm còn niên thiếu, Trẫm đã được hân hạnh kế vị các Tiên Ðế
để làm phụ mẫu của dân, vì vậy đối với Trẫm, mỗi người dân trong nước đều
là con cái của Trẫm. Nhiều khi con cái ăn ở tốt lành, nhưng cũng lắm lúc
chúng ăn ở ngang tàng xấu xa, bổn phận của kẻ làm cha mẹ là phải biết dạy
dỗ và sửa phạt chúng, nhưng sau khi đã sửa phạt, cha mẹ phải thương mến
con cái như trước. Nếu cha mẹ đánh nó là vì muốn cho nó nhận lỗi và hối
cải ăn năn. " Cách đây vài năm, Pháp và Tây-Ban-Nha đã đến chiếm đất đai
của chúng ta, để kháng cự lại, chúng ta đã phải chịu bao nỗi khó khăn,
các quan tâu với Trẫm rằng : "Chính bọn công giáo vì không được tự do giữ
đạo đã cầu cứu 2 nước ấy". Do đó, các ông bảo phải phân sáp, phải giam
tù tất cả những người công giáo để tránh một tai họa lớn laọ Vì báo cáo
sai lầm và đầy mâu thuẫn, tình thế lại bấp bênh, Trẫm không biết đâu là
sự thật, không biết phải nghe ai, nên Trẫm và các quan đại thần đã dùng
những biện pháp nghiêm ngặt. "Trẫm là phụ mẫu của dân, Trẫm nở nào sát
hại những người dân, người con trong nước. Có những quan yêu cầu giết sạch
dân công giáo, nhưng Trẫm không thể chấp nhận một biện pháp như vậy, Trẫm
đã dùng một biện pháp nghiêm ngặt nhưng vừa phải, là biện pháp Phân Sáp
dân công giáo (note : vừa phải, nhưng hàng chục ngàn dân công giáo bị giết).
Như thế dân chúng biết lòng Trẫm độ lượng đến bực nào ? "Những người có
phận sự phải thi hành sắc dụ của Trẫm dạy, có nhiều ông quan đã dùng dịp
này để làm khổ dân đến cực độ. Trẫm rất lấy làm đau lòng vì những hành
động trên, lúc hòa bình về lại, Trẫm đã cấp tốc truyền cho giáo dân về
quê hương xứ sở để giữ đạo của mình. "Dầu vậy, ở trong nước vẫn có bè đảng,
có những đảng thấy mình được che chở (note : ám chỉ công giáo) thành thử
trở nên kiêu căng tìm cách báo thù, làm cho cả toàn dân phải than phiền,
đảng khác (note : Văn Thân) ghét chúng và tìm mọi cách để phá hại. "Phần
các người công giáo, Trẫm nhận rằng : công giáo ở vào một tình thế đau
đớn, nhưng dù sao sự trung thành của công giáo đối với đạo và luật nước
làm Trẫm hết sức khâm phục. Trong cách đối xử, Trẫm sẽ không phân biệt
lương hay giáo, nếu công giáo còn giữ một mối thù, tức nhiên công giáo
không theo lệnh vuạ Công giáo sẽ là phiến loạn; đã là phiến loạn thì còn
gì là công giáo nữa ?. "Hãy lo tập mình đi đến chỗ toàn thiện ngõ hầu Trời
có thể nhận lời cầu xin của dân công giáo. Theo những nguyên tắc của công
giáo, chúng ta không bận tâm đến danh vọng, đau khổ, khinh chê, phỉ báng.
"Còn Văn Thân, không hiểu các ông đã học ở sách nào để vi phạm luật nước
bằng cách tập trung trong các làng để giết hại người công giáọ Các triết
gia đã lên án vũ lực, các ông khô ng có quyền hoạt động như thế. "Nếu hoạt
động vì thù hằng nhau, không những người này sẽ nuô 't người kia, như cá
lớn nuốt cá bé ở ngoài biển, mà có khi sẽ nổi lên chống chính quyền, như
vậy sẽ gây ra không biết bao là tai hạị Ai sẽ chịu trách nhiệm về những
vụ lộn xộn, phải chăng là Văn Thân ? "Các ông đã làm báo cáo công giáo
âm mưu nổi loạn, nhưng vô bă `ng cớ, cái có bằng cớ là Văn Thân, người
có chữ nghĩa sao lại có thể ăn ở như thế được ? "Người công giáo đã bị
bạc đãi, nhưng không phải vì họ không có lỗi, vì họ đã theo một thứ đạo
khác hẳn với đạo của chúng ta, làm chúng ta nghi ngờ họ. Nay hòa bình đã
trở lại, lòng người công giáo hân hoan và họ đã quên hẳn tất cả những nỗi
đau khổ nhục nhã của họ, vậy sao Văn Thân còn sợ công giáo thù oán ? Một
người công giáo ,trước khi hành động, phải suy xét công việc mình có được
phép làm hay không. Nếu người công giáo không tuân theo luật, người ấy
đã phạm lỗi với đạo, vả lại, triều đình có đủ sức để dẹp yên mọi cuộc âm
mưu dấy loạn." Có nhiều điều Tự Ðức nói sai lạc, nhưng rõ ràng ông đã tỏ
một thái độ với Văn Thân là những người lật đổ ông chớ không phải công
giáo. Sau vụ Văn Thân nổi loạn, người ta thấy triều đình thay đổI cách
đối xử với công giáo . Khi giám mục Sohier vừa về tới Huế thì Tự Ðức sai
đại thần tới chào đón Sohier. Thấy thái độ của Tự Ðức ôn hòa hơn, Sohier
xây một ngôi nhà thờ, tổ chức cuộc rước kiệu Thánh thể; mỗi năm cuộc rước
được tổ chức một lần và diễn biến này không thấy có phiền hà tới aị Trong
lúc Tự Ðức tôn trọng tự do tín ngưỡng như vậy thì bỗng nhiên ông nhận được
bức thơ báo rằng, khi từ Pháp trở về, Sohier đã mang theo thuốc độc để
mưu giết vua và đình thần; xong xuôi, dân công giáo sẽ cướp ngôi, quân
Pháp sẽ phụ một tay giết người lương. Tự Ðức nói mỉa với các quan :"Vì
các ông sợ thừa sai bỏ độc, tôi cấm ngặt các ông đến với các thừa sai".
Từ ngày VN ký hoà ước với Pháp, triều thần không bao giờ thấy Tự Ðức mỉm
cười. Vào năm 1862, mới 33 tuổi mà tóc ông đã bạc. Sắc dụ 1867 ở trên có
thể đã cho thấy Tự Ðức bắt đầu nhìn nhận lỗi của mình để cho Trời giáng
họa xuống cho dân hay đây chỉ là thế hòa hoãn của triều đình khi quân Pháp
đã chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ vào 1867 ? Có thể ông đã tĩnh thức không
những về tôn giáo mà còn về chính trị; đó là do tình thế đưa đẩy hay là
do những bảng điều trần đã gợi cho ông những gì ? Nhưng dù có thật sự như
vậy đi nữa, một mình ông không làm gì nỗi khi bao quanh ông có biết bao
hủ nhọ Thí dụ như có lần ông yêu cầu chính phủ Pháp mời các sĩ quan Pháp
tới Huế để lập một trường võ bị, đồng thời nhân giám mục Gauthier về Pháp,
Tự Ðức yêu cầu Gauthier chiêu mộ giáo sư đến VN để mở một đại học theo
lối Âu Châu tại Huế. Các quan trong triều đình hẹp hòi và phản đối quyết
liệt; sự việc này đã làm các sĩ quan Pháp khó chịu bỏ đi. Vào năm 1869,
Tự Ðức ra 2 sắc dụ khác bảo vệ cho người công giáo. Trong sắc dụ thứ nhất,
ông cho phép công giáo được tụ họp, lập làng riêng biệt tùy họ. Trong sắc
dụ thứ hai, ông cấm không ai được quấy rầy công giáo khi họ hành lễ, không
được nhục mạ họ. Chính Gia Long mà còn chưa bao giờ làm ra các sắc dụ bảo
vệ công giáo như thế. Chỉ tiếc là Tự Ðức lên làm vua khi còn quá trẻ (19
tuổi); ông và triều thần của ông đã phạm nhiều sai lầm; nay sự thù hằn
mà chế độ của ông đã gieo vào lòng dân khó mà được tẩy sạch trong phút
chốc. Nói cách khác, ông không còn đủ uy tín để bắt các quan và dân chúng
theo những huấn lệnh của ông nữa.
c) Văn Thân hoành hành ở Nam Ðịnh (1868) : Từ
lúc Pháp chiếm 3 tỉnh miền Nam thì Văn Thân ở Bắc không còn muốn nghe lệnh
của triều đình Huế nữa. - Ninh Bình và Nam Ðịnh, Văn Thân tự tổ chức những
đội quân lưu động đặt dư ới quyền của quan hồi hưu mà dân gọi là Hoàng
Giáp Tam Ðăng (Morey : "Mgr. Theurel"; Ravier : "Sử ký hội thánh"). Tam
Ðăng có uy thế vì đa số các quan chức, tú tài cử nhân là cựu học sinh của
ông. Triều đình không ưng thuận việc tổ chức này, nhưng họ cứ làm lơ. Ngày
14/1/1868, họ vây dánh làng Kẻ Trình và các họ đạo ở Nam Ðịnh, đốt nhà
thờ, nhà dòng của bà phước và 30 nhà của dân công giáo. Công giáo kháng
cự và bắt 2 Văn Thân, trong số đó có ông Tú Ðường. Vua đã "xử hòa" bằng
cách tha Tú Ðường và phạt cha xứ của Kẻ Trình. Thấy tình hình căng thẳng
trở lại và lo sợ bị cấm đạo lần nữa có liên hệ tới sinh mạng nên các giám
mục vội truyền chức cho các giám mục phó : Rianho Hòa ở Trung Bắc Việt,
Croc và Puginier ở Tây Bắc Việt. Trước khi chết, giám mục Theurel đã truyền
chức cho Puginier. Quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất Theo Cao Huy Thuần
trong "Ðạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam" thì việc Pháp ra
Bắc kỳ không phải vì lý do tôn giáo mà là vì thương mạị Bắc Kỳ ở cạnh Trung
Quốc với số dân 400 triệu và đã làm cho các nước phương Tây thèm muốn.
Con dường buôn bán thực sự chính là thung lũng Bắc Kỳ. Những tập sách đẹp
đẻ do Doudart de Lagrée (một Trung tá hải quân được đô đốc De la Grandière
gởi đi quan sát đường thông thương sang nước Tàu dọc theo sông Cửu Long;
sau, mất vì bịnh gan trong cuộc hành trình) và Ðại úy Garnier, ấn hành
vào 1869 cho các nhà buôn Pháp ơ ? Lyon, Bordeaux, Marseilles thấy rằng
Hồng Hà (Nhị Hà) là con đươ `ng ngắn nhất để đi vào xứ Vân Nam, chớ không
phải sông Cửu Long. Do đó cần phải can thiệp vào Bắc Kỳ. Thuần cho rằng
giới cầm quyền Pháp ở Nam Kỳ càng bị thúc đẩy vào con đường can thiệp vì
bị các vị truyền đạo ở Bắc Kỳ trình bày cho họ một cách hoang đường là
dân chúng Bắc Kỳ như muốn thoát ra khỏi triều đình Huế. Tin vào chuyện
"dựng đứng" đó mà chính quốc Pháp quyết định mở cuộc xâm lăng, mặc dù rằng
bên Pháp đang có khuynh hướng không muốn can thiệp vì đang gặp khó khăn
với Ðức. Ðô đốc Dupré là người tạo ra sáng kiến chiếm Bắc Kỳ; tuy thất
bại, nhưng thanh thế của Pháp tại Nam Kỳ lại vững mạnh hơn trước. Cũng
theo Thuần, việc Pháp rút ra khỏi Hà Nội gặp sự chống đối "dữ dội" của
giám mục Puginier của Hà Nội và các nhà truyền giáo khác. Thuần cho rằng
Puginier "đã đóng góp tích cực vào việc các con chiên tiếp tay cho quân
đội xâm chiếm". "Hành vi bán nước đó là nguồn gốc các sự xáo trộn đẩm máu
giữa người giáo và lương, làm cho đất nước đắm chìm trong sự rối loạn không
tả xiết." Ðiều 9 trong hiệp ước 1862 công nhận cho đạo Gia-Tô và các vị
truyền giáo một sự tự do quá lớn, đã tạo sự khó khăn giữa người VN khác
đạo, cũng như giữa triều đình Huế và nhà cầm quyền Pháp. Việc thống nhất
dân tộc bị đổ vỡ : xứ sở chia làm hai phe đối nghịch nhau, "phe Thiên Chúa"
vô cùng nhỏ bé nhưng lại được các vị truyền đạo đoàn ngũ hóa mạnh mẽ và
được quân đội Pháp giúp đỡ, và "phe sĩ phu" lãnh đạo cuộc kháng chiến chống
lại xâm lăng của ngoại bang. Theo Thuần thì vấn đề Bắc Kỳ chỉ được giải
quyết dứt khoát do hiệp ước bảo hộ được ký kết 10 năm sau vụ xâm lăng dang
dở này. Theo như phê bình như trên của Cao Huy Thuần thì ta thấy ông không
để ý gì tới tình hình bên công giáo; tất cả người bên triều đình và Văn
Thân được tôn sùng là "giới sĩ phu", đúng ra là hủ nho chứ không phải là
sĩ phu chân chính và yêu nước, yêu đô `ng bàọ Những việc làm bậy bạ, tàn
ác, "nông nỗi, càn dỡ" (lời của Trần Trọng Kim), giả điếc đã đem nước nhà
tới chỗ không thể cứu vãn. Ðoàn kết để dốc toàn lực đánh tan quân Pháp
thì không làm, chỉ có dịp là đi giết người công giáo, như vậy có ích lợi
gì ? Họ muốn hợp tác chống Pháp thì không tin vì lòng của "sĩ phu" thì
chứa đầy nghi kỵ và hận thù, cho công giáo nói chung là đồ phản quốc. Thật
đáng tiếc cho một cuốn sách trình luận án tiến sĩ mà chỉ nói có một chiều,
không giúp ích gì nhiều cho hậu thế có một cái nhìn khách quan về những
lý do nào mà đất nước ta đi vào tình trạng như thế. Không bài học nào được
rút ra nếu ta không nhìn từ nhiều phíạ Nguyễn Trường Tộ đi trước gần 200
năm mà còn thấy được lý do tại sao có cảnh quốc phá, gia vong; thấy cảnh
nước nhà như thế, ông đành ấm ức và hộc máu mà chết. Tộ đã thấy rằng chính
quyền cần phải thành tâm đoàn kết lương giáo, thực sự yêu dân yêu nước,
càng không phải chỉ vì bảo vệ ngai vàng, phải canh tân và đoàn kết chớ
không phải là bảo thủ và chia rẽ, không phải là tàn sát đồng bào; như vậy
mới có thể đối diện với bất cứ kẻ thù nào; càng không nên mị dân hay coi
họ như những con rốị Ðó mới là quốc sách cứu quốc; người làm điều đó thật
sự mới đáng được gọi là sĩ phu, vang danh muôn thuở. Jean Dupuis và Francis
Garnier : Jean Dupuis (Từ-Phổ-Nghĩa) là một thương gia Pháp. Vào năm 1860,
Dupuis theo quân Anh - Pháp sang đánh Trung Hoa rồi ở lại buôn bán. Khi
tỉnh Vân Nam có giặc, Dupuis xin quan Tổng đốc cho đem khí giới đến bán
để đổi lấy kẽm Vân-Nam. Dupuis cũng biết sông Hô `ng là đường tiện lợi
qua Vân Nam. Tuy nhiên, vì hòa ước 1862 chỉ cho Pháp buôn bán ở 3 cửa biển
Ðà Nẳng, Ba Lạt và Quảng Yê n, nên vào 1872, Dupuis về Paris bổ hàng và
nhân dịp đến xin Bộ trưởng Hải quân Pothuau giúp sức. Pháp đang đụng độ
với Ðức nên Pothuau hứa chỉ giúp phần nào hay phần nấy; mọi nguy hiểm,
Dupuis phải gánh lấy. Trở lại Viễn Ðông, Dupuis tới Nam Kỳ và được thiếu
tướng lục quân d'Arband hứa hằng tháng sẽ cho tàu thủy liên lạc với Dupuis.
Vào tháng 11/1872, Dupuis đem 3 chiếc tàu chở đạn dược đến Hải Phòng, rồi
định dùng sông Hồng đi Vân Nam. Dupuis có yết kiến Lê Tuấn, Trấn thủ Hải
Dương; Lê Tuấn không cho phép Dupuis làm chuyện nàỵ Dupuis vận động nhà
đươg cuộc VN xin triều đình Huế để ông tiếp tục cuộc hành trình. Chờ khoảng
2 tuần lễ mà vẫn không thấy giấy tờ gì từ Huế, Dupuis tự tiện cho thuyền
chạy lên Hà Nội, trái với luật lệ của nước ta. Sự xuất hiện của Dupuis
ở Hà Nội làm quân ta ngạc nhiên và họ điều động binh sĩ để đề phòng. Tới
đây, Dupuis cũng xin phép, nhưng quan Khâm mạng Nguyễn Tri Phương nhất
định không cho đi và trả lời phải đợi lệnh của triêu đình. Lúc này Dupuis
chợt nảy ra ý kiến gặp giám mục Puginier làm trung gian cho việc thương
lượng. Các quan viết thơ rất lịch sự mời Puginier từ Kẻ Sở tới Hà Nội;
kể từ đó, Puginier được mời đến Hà Nội nhiều lần theo lời yêu cầu của các
quan VN để dàn xếp vụ Dupuis. Các quan mong rằng Puginier sẽ thuyết phục
Dupuis bỏ ý định đi Vân Nam dọc theo sông Hồng, là việc mà nhà đương cuộc
VN khô ng thể cho phép, không phải vì họ muốn làm khó dễ hay vì xảo trá
như các sử gia Pháp thường nói (Louvet : "Vie de Mgr. Puginier"), như ng
vì các quan ta nhận thấy trong đoàn thuyền của Dupuis có 2 chiêc pháo hạm
kéo theo sau một chiếc ghe khổng lồ chở 7000 súng trường hiệu Chassepot,
30 khẩu đại bác và 15 tấn đạn được (Maybon : "Souvenirs de l'Annam et du
Tonkin"; Schreiner : "Abrégé de l'Histoire d'Annam"). Nhà đương cục Hà
Nội trông cậy Puginier dùng thế lực của mình khuyên dụ Dupuis ở lại chờ
giấy phép của triều đình Huế. Ðó là điều hữu lý vì không có chính phủ nào
cho phép người ngoại quốc được tự do chuyên chở khí giới lưu thông trong
nước mình mà không có giấy phép. Có lẽ Puginier chưa hiểu rõ tình thế nên
yêu cầu nhà chức trách cứ để cho Dupuis tự do lưu thông trên sông Hồng;
có thể Puginier nghĩ rằng như vậy sẽ có lợi cho 2 bên. Kế đó, lúc tướng
Hoàng Kế Viêm vâng lệnh triều đình Huế tới Hà Nội và bàn chuyện cùng giám
mục Puginier giúp dàn xếp vụ Dupuis, nhưng Dupuis không nghe, lại hăm dọa
bắt cả quan thuyền ta nếu tàu y không lên sông Hồng được. Dupuis và doàn
tùy tùng lộng hành quá sức tưởng tượng, nhưng quan ta vẫn lúng túng không
biết xử thế nào vì ý của triều đình Huế là phải dè dặt, còn Dupuis thì
đang khiêu khích. Dupuis nhất định làm theo ý mình bằng cách tiếp tục cho
thuyền tiến lên Vân Nam, nhưng dọc đường bị quân ta nã súng hăm dọa nên
cả đoàn phải lui về Hà Nội. Trước đó, Dupuis đã phái Millot, một thương
gia ở Thượng Hải đi cùng chuyến với Dupuis, về Saigon cầu cứụ Cùng lúc
việc Dupuis xảy ra, De Chappelaine, lãnh sự Pháp ở Quảng Ðông, dựa theo
lời Millot trình bày, đã gởi thơ về Bộ ngoại giao Pháp là khuyê n nên đem
ít chiếc tàu và một đại đội quân qua Bắc Kỳ, "đã có 6000 dân công giáo
trong nước giúp sức". Tuy chính phủ Pháp đã ngăn cản hành động chiếm Bắc
Kỳ, nhưng Dupré trả lời rằng ông sẽ tùy theo sự tình, cơ hội mà tuân lệnh
Bộ Ngoại giao, và ông cũng hiểu biết trách nhiệm của ông lắm, rồi tiếp
tục lo can thiệp vào việc Bắc Kỳ. Vả lại lúc đó triều đình Huế và Pháp
đang điều đình về một hòa ước nhượng 3 tỉnh miền Tây, nhưng vua quan ta
dần dà chưa chịu, Dupré dùng vụ Dupuis để bắt triều đình Huế chấp nhận
hòa ước. Lúc đó, để câu chuyện đươc ổn thỏa, chính quyền VN kêu đến chính
phủ Pháp để giàn xếp vụ Dupuis. Không ngờ Pháp lấy dịp này để chiếm Bắc
Kỳ. Theo Louvet trong "Vie de Mgr. Puginier" thì trong một bức thơ Garnier
gởi cho giám mục Sohier ở Huế viết tại Saigon đề ngày 6/10/1873 đã cho
ta biết rõ âm mưu của Pháp đối với Bắc Kỳ là muốn tạo ảnh hưởng của Pháp
tại lưu vực sông Hồng và chuẩn bị cho việc bảo hộ. Ðô đốc Dupré, đang cầm
đầu lực lượng Pháp tại Saigon, bề ngoài thì có vẻ như không thừa nhận việc
làm của Dupuis, nhưng Dupré đã ngầm giúp Dupuis để mở con sông Hồng cho
tàu buôn Pháp, vì Dupré đã nhờ Hong Kong and Shanghai Banking Corporation
để cho Dupuis một số tiền là 30,000 quan (Louvet : "Vie de Mgr. Puginier").
Dupré đã không đem việc này ra với nhà đương cuộc VN vì ông ta đang thương
thảo với họ. Hòa ước 1862 đã trở thành vô giá trị vì Pháp đã vi phạm hòa
ước bằng cách dùng võ lực chiếm luôn 3 tỉnh miền Tây của VN vào năm 1867.
Ðang lúc 2 chính phủ đang thương thuyết thì Dupré cứ tiếp tục đi Vân Nam
rồi trở về Hà Nội với 150 lính Tàụ Thâ 'y thế, nhà đương cục Hà Nội đã
tịch thu thuyền của Dupuis. Theo lời yêu cầu của VN, Dupré gởi Francis
Garnier đến Hà Nội để "đuổi Dupuis ra khỏi Bắc Kỳ", vì sự hiện diện của
Dupuis ơ ? đây là bất hợp pháp, chính Dupré cũng công nhận như vậy (Louvet
:"Vie de Mgr. Puginier"). Thật ra sứ mạng của Garnier đâu chỉ có thế, Dupré
còn giao cho Garnier sứ mạng dùng võ lực bắt ép VN phải để cho tàu lưu
thông trên sông Hồng. Nhiều hồ sơ đã chư 'ng tỏ là Pháp muốn dùng vũ lực
để can thiệp vào nội bộ của nước ta. Dupré đã viết nhiều bức thơ cho các
giám mục Bắc Kỳ xin cácngài và dân công giáo "ủng hộ Garnier" trong sứ
mạng nàỵ Nhận được thơ của Dupré, các giám mục phân vân và lo lắng, nếu
có chiến tranh giữa VN và Pháp, số phận long đong của người công giáo sẽ
càng thê thảm. Biết thế, giám mục Colomer Lễ đã trả lời cho Dupré là ông
và các bổn đạo của ông hoàn toàn nằm ở ngoài vòng những biến cố chính trị
đang xảy ra và sẽ xảy ra sau này; ông cũng cho Dupré hay là bổn đạo của
ông không thể cộng tác vào công việc này được. Giám mục của vùng Trung
Bắc Kỳ cũng tỏ cùng một thái độ tương tợ. Ðại úy Garnier (An Nghiệp) là
một sĩ quan trẻ tuổi (34 tuổi), thông minh, nhiều tham vọng, can đảm đến
độ liều lĩnh. Garnier đã dự vào đạo quân của đô đốc Charner đánh Tàu và
Nam Kỳ (1860- 1861). Phục vụ dưới thời của De la Grandière, Garnier làm
thanh tra tập sự ở Chợ Lớn, và vào năm 1866 có tham gia phái đoàn đi thám
hiểm sông Cửu Long. Trong khi đó, ở ngoài Bắc, Dupuis đang làm mưa làm
gió. Thật ra vụ Dupuis hống hách nằm trong kế hoạch của Dupré. Theo "Việt
Sử Toàn Thư", khi triều đình Huế gởi Nguyễn Tăng Doãn, Lê Tuấn và Nguyễn
Văn Tường vào Nam lo vụ thương thuyết về 3 tỉnh miền Tâ y và sẵn dịp yêu
cầu Dupré can thiệp, ông ta liền điện về Paris như sau :"Việc Jean Dupuis
đã thành công, cần chiếm Bắc Kỳ để mở đường thông thương sang Tàụ..Không
cần viện binh, xin cho tự tiện, nếu hỏng việc thì xin chịu lỗi." Nhân dịp
triều đình Huế không muốn gây chuyện lớn đã không đá động tới Dupuis, Dupré
đã sai Garnier đem 2 chiếc tàu con, 30 thủy bộ binh do Thiếu úy De Trentinian
chỉ huy và 56 tùy tùng trong đó có 10 người Việt ra Bắc Kỳ; tiếp theo là
2 chiếc tàu chở 60 thủy quân pháo thủ và nhiều ngườI tùy tùng khác. Theo
Phan Khoang ("Việt Nam Pháp Thuộc Sử : 1884-1945") thì Dupré đã dặn Garnier
là :"Ông ra Hà Nội, vì triều đình Annam nhờ tôi bảo Dupuis dời khỏi thành
phố ấy mà y đã đến từ tháng 11 rồi khô ng chịu đị Triều đình Annam và Dupuis
tố cáo lẫn nhaụ Ông điều tra xem bên nào có lý. Dẫu kết quả thế nào, ông
cũng phải cố nài cho Dupuis gấp rời khỏi Hà Nội, vì y ở đó là trái với
hòa ước, trừ phi ông xét những lời kêu nài của y hợp lẽ công bằng và cho
là có giá trị. Nhiệm vụ của ông không chỉ chừng â 'y là hết. Sự bất lực
của triều đình Annam đã rõ ràng, việc giao thông với Vân Nam dễ dàng ai
cũng trông thấy, vậy không dùng phương pháp cho có hiệu quả thì nhiều sự
rắc rối như thế sẽ xảy ra nữa, hoặc do Dupuis hay do một người mạo hiểm
khác. Vậy hay hơn hết là phải sớm tạm mở sông Hồng, từ biển đến biên thùy
Vân Nam cho tàu bè Annam, Pháp và Tàu qua lại chịu một số thuế vừa phải.
Phương pháp ấy không được trì hoãn. Ông nên hết sức làm cho người ta công
nhận ngay đi." Garnier ghé Ðà Nẵng thông báo cho triều đình Huế biết là
ông ra Hà Nội để dàn xếp vụ Dupuis và khai thương xứ Bắc Kỳ. Triều đình
Huế có cử 2 vị quan cùng Garnier ra Bắc. Quan quân ta ai cũng tưởng Garnier
ra để thu xếp vụ Dupuis nên khi đi đến đâu Garnier cũng được ta tiếp đón.
Vào ngày 5/11/1873, Garnier đến Hà Nội; vừa lên bộ đã có lính của Dupuis
dàn chàọ Sau đó, Garnier ra mắt Khâm Sai Nguyễn Tri Phương và có ý muốn
đóng quân trong thành; Phương không đồng ý; sau cùng Garnier phải đóng
ở Trường Thị Cũng vào lúc đó Garnier cho ra một tờ công bố trong đó ông
xúi giục công giáo khiếu nại với ông về cách cư xử tàn tệ của các quan
đối với họ. Theo mật lệnh của Dupré, Garnier phải liên lạc với những người
thân nhà Lê để mưu toan lật đổ Tự Ðức và thừa dịp này Pháp sẽ đặt địa bàn
trên đất Bắc. Ngày 16/11/1873, Garnier dán yết thị hiểu dụ dân VN với những
điều khoản làm các quan ta ngơ ngác : Garnier có quyền gì mà hiểu dụ dân
VN ? Theo Phan Khoang ("Việt Nam Pháp Thuộc Sử : 1884-1945), giám mục Puginier
được mời đến Hà Nội để giúp ý kiến Garnier . Puginier lấy làm ngạc nhiên
về quyết định quá táo bạo của Garnier và khuyên Garnier đừng liều lĩnh
hoạt động một các thiếu khôn ngoan như vậy. Puginier đã ra lệnh cho người
công giáo không được thông đồng với người Pháp. Quan quân ta cũng phòng
bị khi thấy sau khi Garnier đến Hà Nội thì có 5 chiếc tàu Pháp chở lính
tiếp rạ Thấy không khí nghi ngờ và tình trạng bất hòa này, một mặt Garnier
bàn với Dupuis việc lấy thành Hà Nội, mặt khác, gởi tối hậu thơ cho Nguyễn
Tri Phương. Trong tối hậu thơ này Garnier lật lọng nói là việc mình ra
đây để đuổi Dupuis là không đúng; việc ra lần này là làm cho việc buôn
bán có qui củ hẳn hòi để về sau khỏi xảy ra như ~ng vụ như Dupuis nữa;
triều đình Huế đã bất lực, Garnier muốn tới đây là để ở lại và lo định
đoạt phương sách làm xứ này thịnh vượng; những kẻ buôn bán sẽ được Pháp
che chở; nhân dân sẽ được tự do đến đưa nguyện vọng; Garnier không thích
những lời đe dọa. Vào ngày 20/11/1873, 6 giờ sáng, Garnier đánh thành Hà
Nội. Nguyễn Tri Phương lên thành điều khiển. Phò mã Nguyễn Lâm (con Nguyễn
Tri Phương) ra thăm cha, được cử đến giữ cửa Ðông-Nam. Quân địch leo lên
mái nhà bắn vào thành; Nguyễn Lâm bị đạn chết. Nguyễn Tri Phương bị trúng
đạn ở đùi phải. Quân địch trèo vào thành. Garnier chiếm cửa Nam và treo
cờ Pháp. Phương bị thưong, cưỡi ngựa chạy ra thì bị một tên thông ngôn
tố giác và bị bắt. Quân ta có đến 7000 quân; quân của Garnier là 90, hợp
với 90 người của Dupuis mà đã hạ được thành Hà Nội chỉ trong một giờ. Bên
địch chỉ có một người chết và 2 bị thương. Thành mất, Tổng đốc Bùi Ðức
Kiên và Án sát Tôn Thất Hiệp trốn thoát về làng Nhơn Lực, huyện Thanh Trì.
Về sau, Bùi Ðức Kiên bị Chánh tổng Kiên bắt nạp cho quan Pháp lấy 100 quan
tiền thưởng. Nguyễn Tri Phương và các quan khác bị đem xuống tàu chờ giải
về Gia Ðịnh. Về phần Nguyễn Tri Phương, ông không chịu để buộc vết thươ
ng, nhịn ăn uống. Sau một tháng như thế, ông mất, thọ 67 tuổị Phương quả
là vị tướng tài, làm quan cả 3 đời vua, trải mấy mư ơi năm đánh Nam dẹp
Bắc, làm Kinh lược Nam Kỳ, lúc nào ông cũng tỏ một lòng vì nước vì dân.
Chẳng ngờ vì gặp quân địch có hỏa pháo quá mạnh, cha con, anh em cả 3 đều
phải chết, trả nợ nước. Tự Ðức sai đưa quan tài cha con ông về làng an
táng; năm 1875, vua sai lập nhà thờ gọi là Trung Hiếu Tử tại làng Ðàng
Long, Thừa Thiên. Tuy nhiên, khi nghị tội về việc thất thủ Hà Nội, các
quan trong triều đã đề nghị cách chức của Phương, dù ông đã chết. Trong
khi đó, Garnier đi mộ ở các tỉnh được 14,000 thân binh người Việt, trong
đó có khoảng 2000 là công giáo; đa số người Việt theo Garnier là những
người còn tưởng nhớ tới nhà Lê, nhất là quân vùng Quảng Yên. Không đầy
một tháng, quân Pháp đã chiếm Ninh Bình, Phủ Lý và Nam Ðịnh. - những nơi
mà Garnier chiếm lấy, cảnh tượng trở nên hổn độn. Chỉ trong 20 ngày, 4
tỉnh Bắc Kỳ (Nam Ðịnh, Phủ Lý, Ninh Bình, Hải Dương) thay nhau thất thủ.
Theo Phạm Văn Sơn ("Việt Nam Toàn Thư"), quân Pháp có rất ít người, thí
dụ khi hạ thành Ninh Bình chỉ có Thiếu úy Hautefeuille và 7 tên lính mà
thôi. Sơn đã phê bình rằng "Cái hào khí của con cháu Lý Thường Kiệt, Trần
Hưng Ðạo đánh Tống, diệt Chiêm thảm hại đến thế là cùng...mà cũng vì đâu
?". Ðiều đó cho ta thấy, nhân tâm phân tán biết là bao. Nghe hung tin,
Tự Ðức sai người thông báo với Dupré nhờ thuyết phục Garnier trả lại thành
Hà Nộị Mặt khác, vua sai người ra Bă 'c để điều đình. Garnier thông báo
rằng ông không muốn thành Hà Nội và yêu cầu triều đình đưa quan khác ra
cai trị Triều đình cử Trần Ðình Túc, Nguyễn Trọng Hợp, Trương Gia Hội và
giám mục Sohier ra Hà Nội để thương lượng. Sau khi được triều đình Huế
thông báo về vụ thành Hà Nội, chính phủ Pháp ở Nam Kỳ gởi Philastre đi
với Phó sứ Nguyễn Văn Tường ra Bắc. Lúc họ vừa tới Bắc thì nghe tin Garnier
bị quân cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc (Vua phong Lưu Vĩnh Phúc làm đề đốc để
cùng với vua quan Việt Nam chống giữ quân Pháp) giết tại Cầu Giấy, ngoaì
Hà Nộị Nghe tin Garnier bị giết, Philastre nổi sùng định quay về nhưng
nhờ Nguyễn Văn Tường dùng tài biện luận khéo léo nên Philastre đổi giận
làm lành. Theo "Việt Nam Sử Lược", Philastre là một người điềm đạm, nhận
thấy việc Dupuis và Garnier làm là những việc bất hợp pháp, ông ra lệnh
cho trả lại VN các thành trì bị chiếm cứ, trả lại 4 tỉnh và buộc quân đội
Pháp ở các tỉnh thu cả về Hà Nội, rồi định ngày rút quân ra đóng ở Hải
Phòng, đợi đến ngày ký tờ hòa ước xong thì rút về Nam. Ðó là tháng 1/1874.
Trong lúc đó, thấy Philastre phá tan kế hoạch của mình , Dupuis bèn vào
Saigon kêu ca với Dupré và đòi phí tổn. Văn Thân tàn sát công giáo (1874)
: 1.16 Ðịa phận Tây Bắc Việt : Biết trước rằng khi Pháp triệt thoái khỏi
Bắc Kỳ thì Văn Thân sẽ trả thù công giáo vịn cớ là có một số công giáo
đã theo Garnier đánh lại quân VN, nên giám mục Puginier đề nghị một cách
hữu lý với Philastre tạm nán lại một thời gian để các quan VN có đủ thì
giờ tập trung binh sĩ giữ trật tự, như vậy lúc quâ n Pháp rút lui thì các
quan VN mới có phương tiện che chở công giáo khỏi bị Văn Thân sát hạị Nhưng
Philastre không đếm xỉa gì tới lời yêu cầu này vì vào ngày 8/1/1874, quân
Pháp đã bắt đầu triệt thoái khỏi Ninh Bình. Ðiều này cho thấy, thực dân
chỉ lợi dụng cái lớp vỏ bên ngoài là "tự do tín ngưỡng" để xâm lăng VN.
Ngày 11/1/1874, tại Nam Ðịnh, 14 làng công giáo bị đốt, một linh mục bị
giết; cuộc tàn sát kéo dài tới 10 ngày liền cho tới khi giáo hữu còn sống
sót chạy vào núi lẩn trốn. Trong địa phận của giám mục Puginier, có 3 linh
mục, 25 chủng sinh và hă `ng trăm bổn đạo bị giết, 107 họ đạo bị phá hủy
(Louvet :"Vie de Mgr. Puginier"). Puginier cũng có trách nhiệm phần nào
trong vụ tàn sát này khi không dàn xếp được vụ Dupuis; mặt khác có một
số giáo hữu của địa phận tự ý đi lính cho Garnier; tất cả đã đem đến cảnh
thê thảm nói trên. 1.17 b) Ðịa phận Nam Bắc Việt : Văn Thân lấy những cớ
đã nêu ở trên đổ cho công giáo vùng Tây Bắc Việt mà tàn sát họ, nhưng đối
với địa phận Trung Bă 'c Việt thì Văn Thân không thể nào cáo buộc họ theo
Pháp được, nhưng "giận cá chém thớt", ở Nghệ An có 2 Tú tài là Trần Tấn
và Ðặng Như Mai đã tụ tập Văn Thân trong hạt, làm bài hịch "Bình Tây Sát
Tả" (diệt Tây, giết tà đạo) rồi kéo nhau đi giết người công giáọ Theo "Việt
nam Sử Lược", bài hịch đại khái nói rằng : "Triều đình dẫu hòa với Tây
mặc lòng, sĩ phu nước Nam vẫn không chịu, vậy trước nhất xin giết giáo
dân, rồi sau đánh đuổi người Tây cho hết, để giữ lấy cái văn hóa của ta
đã hơn 1000 năm naỵ.." Ðám Văn Thân này có độ 3000 người, kéo nhau đi đốt
phá các làng có đạọ Thấy các quan địa phương im hơi lặng tiếng, giám mục
Gauthier liền cho phép công giáo cầm khí giới để tự vệ. Theo Launay ("Histoire
Générale des Missions"), Gauthier có trần tình lên vua như sau : "Công
giáo đã cầm khí giới không phải để chống lại triều đình, nhưng để bảo vệ
mạng sống mình. Ðã có hàng ngàn người công giáo đã bị giết, các quan đã
làm gì để chặn đứng cuộc giết hại này ?". Thật vậy, cuộc tàn sát đã trở
nên khủng khiếp vì đã có khoảng 4,500 người công giáo bị giết và 300 họ
đạo biến thành bình địạ Quan Tổng Ðốc Nghệ An đã có ý dung túng Văn Thân
và do đó, họ càng đắc ý làm càng. Vào cuối tháng 3/1874, sau khi ký hòa
ước 1874 với Pháp, Tự Ðức mới sai Nguyễn Văn Tường làm Khâm Sai và cùng
Lê Bá Thuận đem quân đánh dẹp. Ngày 30/5/1874, Văn Thân chiếm Hà Tĩnh và
cách mấy ngày sau họ đánh lấy 5 phủ thuộc Nghệ An. Có khoảng 20,000 Văn
Thân vây Nghệ An, quan quân của triều đình sắp đầu hàng thì chợt đâu có
200 binh sĩ công giáo nổi lên cướp được một đồn của Văn Thân, giết một
tư ớng giặc Văn Thân tên Tú Cừu và 30 chục quân; xong, họ kéo lên tỉnh
giải vây cho quân của triều đình và giúp họ lấy lại các phủ huyện. Loạn
Vă Thân kéo dài từ tháng 2/1874 tới tháng 6/1874 thì mới yên. Cụ Sáu ở
Phát Diệm : Lúc Trần Ðình Túc, Nguyễn Văn Hợp và giám mục Sohier đến Ninh
Bình trong chuyến đi gặp Garnier thì linh mục Trần Văn Lục, thường được
gọi là cụ Sáu, đã đưa họ về Hà Nộị Nghe tin Philastre sắp cho quân Pháp
triệt thoái, Lục trở về ngay Phát Diệm vì ông đoán rằng thế nào cũng có
việc lôi thôi xảy rạ Sau khi đã sát hại công giáo ở Hà Nội và Nam Ðịnh,
Văn Thân sắp sửa tiến về Phát Diệm thì nghe tin là bộ đội Pháp đã chiếm
Phát Diệm. Văn Thân lập tức lui binh, nhưng thực sự đó chỉ là tin vịt mà
Lục đã tung ra để ngăn chặn cuộc thảm sát. Sau đó, Lục được triều đình
Huế mời về Ninh Bình để lo vụ hòa giải lương giáo ("Le Père Six"; Nguyễn
Bá Tòng). Người ta lo ngại khi thấy Lục về Ninh Bình vì nơi dây đã có 2
linh mục bị giết, nhưng nhờ khôn khéo, Lục đã thu xếp và đem lại bình an
cho cả 2 bên. Sau khi Lục trở lại Phát Diệm thì Tự Ðức và triều đình đã
gởi giấy ban khen Lục (Olichoc :"Le Baron de Phat Diem"). Vào lúc này,
trong khi Văn Thân ở Bắc Kỳ chém người công giáo như chẻ tre thì ở Trung
và Nam Kỳ, vài vị quan lợi dụng dịp này để giết công giáo, nhưng họ đã
không làm được việc gì. Hòa ước 15/3/1874 : Lúc Sohier, Trần Ðình Túc và
Nguyễn Trọng Hợp ra Bắc thì Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường vào Nam Kỳ cùng
với Philastre thương thuyết. Ngày 27/1/1874, Thiếu tướng Hải quân Dupré
cùng Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường ký hòa ước gồm 22 điều khoản; theo đó
ta mất đứt 6 tỉnh Nam Kỳ và đây là lần đầu tiên "nguyên tắc bảo hộ" đã
được nêu ra. Sau đây là điều khoản thứ IX liên hệ tới tôn giáo : "Nhìn
nhận đạo Công giáo dạy dân làm lành, Hoàng Ðế VN bãi bỏ những dụ cấm đạo
trước và ban phép cho tất cả mọi người dân trong nước được tự do theo đạo
và hành đạo." (Schreiner :"Abrégé de l'Histoite d'Annam"). Do đó, công
giáo được phép tụ tập trong thánh đường, không bị bó buộc vì bất cứ lý
do kỳ thị nào, được tham gia vào mọi sinh hoạt như người lương và có quyền
không làm điều gì khác với tôn chỉ của đạọ Tự Ðức đã hủy bỏ những giấy
tờ kiểm tra công giáo có từ 15 năm quạ Công giáo được hưởng chế độ thuế
má như người lương. Họ không còn bị người lương buôn lời nhục mạ. "Thập
điều" của vua Minh Mạng đã được sửa chữa. Các thừa sai được tự do đi lại;
linh mục VN được giảng dạy như thừa sai; luật lệ dành cho người tu hành
được cải sửa cho hợp với nền văn minh; tu sĩ được quyền xây cất thánh đường,
tu viện, nhà thương, trường học, nhà nuôi trẻ; họ có thể thuê và mua đất.
Của cải phải được trả lại cho người cô ng giáo. Khi Tự Ðức cố gắng thực
hiện những cải tổ theo hòa ước thì đám quan trong triều tìm mọi cách để
kéo dài tình trạng cũ. Hơn 1 năm sau khi ký hòa ước, ngày 31/10/1875, giám
mục Sohier mới hân hạnh đọc được sắc dụ Hoàng đế cho phép được tự do tín
ngưỡng tại nhà thờ của ông ở Huế. 5. 10 năm không kế hoạch : Sau khi đụng
độ dai dẳng với Ðức, Pháp được rảnh tay và liền nghĩ tới Việt Nam. Chủ
trương của Pháp dĩ nhiên sớm muộn gì cũng chiếm hết nước này cho kỳ được.
Chính phủ Pháp ở xa xô i ít am hiểu tình hình nên tuy nhận được báo cáo
của thực dân nhưng thường có những quyết định dè dặt. Thực dân Pháp ở Saigon
thì đã có mặt tại đây gần 20 năm nên hiểu rõ nội tình và tìm cách dùng
nhiều biện pháp để bắt chẹt triều đình. Theo Việt Sử Toàn Thư, triều đình
Huế nay không còn người tài, vua chỉ thích ngâm vịnh, đám nho thần hủ bại
không biết tính trư ớc. lo sau, quyền biến chậm chạp, lúng túng. Ðáng lẽ
lợi dụng 10 năm chiến tranh giữa Pháp và Ðức, triều đình tại VN phải có
phương kế gì để khai triển. Nhưng không, ta đi ỷ lại vào Trung Quốc mà
không hiểu rằng chính Trung Quốc cũng đang suy bại, vẫn cứ tiếp tục bang
giao và triều cống Tàu hầu nhờ họ chống lưng, chẳng hạn như việc phải nhờ
Tàu sang dẹp giặc (1878-1879), cố tình đi trái với sách lược ngoại giao
đã ký kết với Pháp. Ðó cũng là cớ cho Pháp thôn tính nốt phần đất còn lại,
đành rằng nếu không có cớ này thì họ cũng có cớ khác. Triều đình lại có
thái độ khuyến khích hay xúi giục quân Cờ Ðen làm nhục mạ đại diện Pháp
ở Bắc Kỳ và ngăn trở 2 người Pháp là Courtin và Villeroi có giấy thông
hành của VN lên buôn bán ở Vân Nam bị quân Cờ Ðen chặn lại ở Lào Kaỵ Ngoài
ra ta còn có cử chỉ khiếm nhã với Khâm Sứ Rheinard khiến ông phải bỏ vào
Saigon. Do có các việc lôi thôi này, Thống đốc Le Myre de Vilers đã gởi
công điệp khiếu nại với Tự Ðức và vịn vào đó Pháp đem quân ra Bắc để "bênh
vực quyền lợi của người Pháp". Kỳ này người được cử đi đánh Bắc Kỳ lần
thứ hai là Henri Rivièrẹ Trước khi đi, Rivière dược căn dặn như sau :"Biện
pháp mở rộng và củng cố ảnh hưởng của chúng ta ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ là
biện pháp chính trị và ôn hòạ Việc ta sắp làm chỉ là để đề phòng mà thôị
Dùng võ lực chỉ khi nào cần thiết hết sức..." Pháp lập nền bảo hộ ở Bắc
và Trung Kỳ (1883-1885) Ngày 26/3/1882, Rivière rời Saigon với 2 chiến
hạm Drac và Perseval, hai đội thủy và lục quân, một tiểu đội pháo, một
toán lính tập người Việt. Tổng số độ 800 quân. Ngày 2/4/1882, Rivière tới
Hà Nội gặp Tổng đốc Hoàng Diệu. Ngày 17/4/1882, Rivière báo tin cho Paris
biết là sẽ hạ thành Hà Nội. Thành Hà Nội thất thủ; Hoàng Diệu tuẫn tiết.
Lấy xong thành Hà Nội, Rivière ngừng lại không đánh nữa trong vòng một
năm và được viện trợ từ Saigon với 750 lính Pháp và 400 lính Việt. Ngày
12/3/1883, Rivière chiếm Hòn Gai để dành quyền khai thác mỏ than Hòn Gaỵ
Tổng đốc Nam Ðịnh huy động khoảng 20,000 quân định chặn đường tiếp tế của
Rivière qua Hải Phòng, nhưng đội quân này đã bị quân của Rivière đánh và
bỏ chạỵ Về phía Hà Nội thì quân ta đã kết hợp với quân Cờ Ðen của Lưu Vĩnh
Phúc phục kích Rivière tại Cầu Giấy; Rivière tử trận cùng một địa điểm
như Francis Garnier. Nghe tin này, chính phủ mới ở Pháp viện trợ tiền cho
Nam Kỳ để đem toàn lực đánh Bắc Kỳ. Ngày 3/5/1883, Pháp đã tới Hà Nội và
Nam Ðịnh. Trong lúc tình hình còn đang đen tối thì Tự Ðức từ trần (19/7/
1883). Ông không có con kế tự (vì lúc nhỏ ông bị bịnh đậu sơ ?i; measles)
nên đem cháu gọi bằng bác lên kế vị tức là vua Dục Ðức. 3 ngày sau, không
theo lời di chiếu của Tự Ðức, 2 phụ chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn
Tường phế Dục Ðức, đem ông giam vào Trấn phủ và không cho ăn gì cả khi
Dục Ðức chưa làm lễ đăng quang. 3 ngày sau, Dục Ðức chết. Thuyết và Tường
liền đem ông Hoàng Út, em của Tự Ðức tên là Hồng Dật, lên ngôi lấy hiệu
là Hiệp Hòa (21/7/1883). Hiệp Hòa vừa lên ngôi không lâu thì Toàn quyền
Harmand một mặt sai thiếu tướng Bonet và Brionval dẫn quân đánh ngoài Bắc,
một mặt ông và Courbet đem chiến thuyền đánh cửa Thuận An. Kết quả là hoà
ước Harmand ra đời (23/7/1883) bắt buộc VN phải nhìn nhận sự bảo hộ của
Pháp ở Trung và Bắc Kỳ. Ngày 30/11/1883, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết
ép Hiệp Hòa uống thuốc độc (một thang thuốc bắc có thêm hồng hoàng và thạch
tín) vì Hiệp Hòa muốn nhận cuộc bảo hộ của Pháp cho yên ngôi vua; có lẽ
Hiệp Hòa quan niệm rằng chống Pháp chỉ có hại mà không có lợi, một phần
triều đình cũng nghĩ vậy; còn nhóm Thuyết và Tường thì chủ chiến và họ
đã làm mạnh khi bắt được chứng cớ Hiệp Hòa gởi thư cho Khâm Sứ Pháp về
ý dịnh đầu hàng của ông. Sau đó, Thuyết và Tường đưa vua Kiến Phúc, tức
ông Hoàng Ưng Ðăng, con nuôi của Tự Ðức mới 15 tuổi, lên ngôi. 8 tháng
sau, nhằm ngày 31/7/1884, vua Kiến Phúc mất, nhưng dư luận ở Huế cho là
Kiến Phúc đã khám phá ra Tường đã thông dâm với một Hoàng phi và 2 người
này đã thuốc Kiến Phúc chết. Tường và Thuyết đưa người em vua Kiến Phúc
lên thay thế, đó là ông hoàng Ưng Lịch, đế hiệu Hàm Nghi, nhằm ngày 2/8/1884.
Trong lúc này ngoài Bắc đâu đâu cũng có người đứng lên chống Pháp và họ
có thê ? cầm cự được là nhờ quân Trung Hoa giúp một taỵ Biết thế, Pháp
ký với Trung Hoa hiệp ước Fournier theo đó quân Trung Hoa rút khỏi VN.
Trong khi đó ở Trung, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường âm thầm chuẩn
bị đánh Pháp. Tối 4/7/1885, họ ra lệnh nã súng vào doanh trại Pháp. Thuyết
đem Hàm Nghi chạy trốn ra Quảng Trị rồi lên mạn ngược Quảng Bình, còn Tường
thì nhờ giám mục Caspard đem ông ra "thú tội" với tướng Courcỵ Sau đó,
người kế vị vua Hàm Nghi là vua Ðồng Khánh; ông trị vì được 3 năm thì mất
(1885-1888).
Văn Thân lại tàn sát công giáo :
1885-1888
1. - Bắc Việt : ở Ðịa phận Tây Bắc Việt :
Từ khi vua Hàm Nghi bỏ cung điện chạy trốn, Văn
Thân khắp nơi nổi lên giết giáo dân một cách tàn nhẫn. Tại xứ Ðoài (Sơn
Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang), thuộc địa phận Hà Nội, có nguyên một làng
phải chạy trốn. Một linh mục tên Cấp thuộc xứ Ðoài bị quân Cờ Ðen bắt trong
khi ông đang giữ trong mình một ảnh Thánh giá. Bị hỏi là cái gì, ông trả
lời dó là Chúa của ông và cũng là Chúa của họ Họ bắt ông dịch kinh "Lạy
Cha" ra tiếng Việt rồi thắc mắc hỏi "Nước Cha trị đến" là cái gì ? Cấp
trả lời Nước Cha có nghĩa là Nước Chúa. Nghe xong, họ chôn sống ông, đầu
lộn ngược, 2 chân lòi ra khỏi đất mang một tấm bảng có mấy chữ :"Bọn theo
tả đạo phải giết như thế này." Ngày 20/9/1886, Văn Thân bao vây Thanh Hóa;
vì không lấy thành được, họ quay ra đốt các làng có đạo chung quanh. Có
tất cả 100 họ đạo bị cháy ra tro. ở 2. Ðịa phận Nam Bắc Việt :
a) Làng Hướng Phương và Cồn Nâm : Ngày 31/1/1886,
Văn Thân đến Hướng Phương. Linh mục tại đây tìm khí giới tự vệ và bao vây
họ laị Sau 15 ngày bị cô lập, Văn Thân giải vây và đi vào các làng nhỏ
để đốt phá. 3 tháng sau, họ trở lại với số quân đông hơn nhưng không làm
gì nổi. - làng Cồn Nâm, vị linh mục đã quá già đã không chịu bỏ chạy. Lúc
Văn Thân đến, ông đang cầu nguyện với 2 học sinh. Cả 3 bị lôi ra khỏi nhà
và bị chém. Thật ra một số anh em bên lương không muốn tàn sát ngườI công
giáo, nhưng các thủ lãnh Văn Thân ép họ phải làm như vậy. Vào tháng 2/1886,
Tôn Thất Thuyết ở Bình Chính, gần Hướng Phương, có ra lịnh cho 10 lý trưởng
đi tàn sát công giáo; họ không chịu làm và cả 10 người đều bị chém. Tuy
nhiên tại Bình Chính, Văn Thân đã đốt hết 59 họ đạo và giết 600 người công
giáo.
b) Làng Bảo Nham : Vào 10/1885, Văn Thân kéo tới
bao vây làng này, trong làng có độ 250 người tráng kiện và 8 khẩu súng
cùng giáo mác; ngày 12/11/ 1885, Văn Thân với 2000 người đã giết chết 20
ngườI công giáọ Thấy nguy ngập, họ trốn vào hang núi. Văn Thân đuổi theo,
ra lệnh đốt núi, khói lửa tràn vào cửa hang. Trong hang, công giáo họp
lại và phái 8 người xuống điều đình cùng Văn Thân, nhưng tất cả đều bị
chém. Một thừa sai tên Klinger ở kế cận đã cùng 300 giáo dân đến cứu họ.
c) Làng Trung Nghĩa và Xuân Kiều : Ngày 20/10/1886,
Hàm Nghi ra lệnh giết tất cả những người Việt công giáọ Vừa được lệnh,
Văn Thân đem 6000 quân đánh làng Trung Nghĩạ Làng chỉ có 200 người có thể
cầm khí giới. Thừa sai Arguese đã tổ chức cho họ tự vệ nên Văn Thân không
làm được gì. Tại Hà Tĩnh, có đến 6000 bổn đạo bị giết, thừa sai Satre bị
trọng thương, thừa sai Cras bị giết, số còn lại đã lập đồn lũy để tự vệ
hoặc đem quân đi giúp những làng bị bao vâỵ Một số thừa sai đã đi lên núi
để tìm những bổn đạo đang trú ẩn, đưa họ về và lo cơm nước. Tại Xuân Kiều,
Văn Thân có nhờ 300 quân Tàu ô giúp sức, nhưng nhờ phòng thủ cẩn thận,
đám giặc này đã để lại chiến trường 65 xác chết trong đó có 3 người Tàu.
Cuối 1885, giám mục Croc của địa phận Nam Bắc Việt qua đời, giám mục Pineau
thay thế.
2. - Trung Việt : Theo Ðào Trinh Nhất ("Phan Ðình
Phùng") thì tại Trung Kỳ Văn Thân ra nhiều hịch để diệt tả đạo, trong đó
có một hịch nêu lý do như sau : "Vì công giáo bán đứng quốc gia cho xâm
lăng Pháp, cần phải trừ khử được quân tả đạo nội công đó, thì tự nhiên
người Pháp thành ra trơ trọi yếu thế như cua mất còng, không bò, không
kẹp được nữa." Có tờ hịch khác nói rằng hồi quân Pháp đánh thành Hà Nội
chính người công giáo đã bắc thang cho Pháp leo vào thành. Tờ hịch vừa
ra thì lập tức ở các tỉnh miền Trung các bậc khoa bảng đều vùng dậy, vứt
lông bút, vớ lấy gươm đao hò nhau triệu tập nghĩa sĩ, đúc khí giới, phất
cờ, đánh trống...đi lùng đánh bọn công giáo, kẻ thù của dân tộc. Ðứng trước
sư 'c mạnh kinh khiếp này, một số công giáo đã vùng dậy bảo vệ mạng sống.
a) Quảng Ngãi : Văn Thân dấy binh và chiếm thành
Quảng Ngãị Họ giết thừa sai Poirier, Guégan, Garin, đốt phá 10 họ đạo và
giết hơn 6000 người công giáọ - Bình Ðịnh, họ giết các thừa sai Barrat,
Dupont và Martin, đốt nhà giám mục Camalbeke, chủng viện Làng Sông và khoảng
150 họ đạo khiến 8000 người công giáo phải chạy trốn ra Qui Nhơn. Riêng
tại Trà Kiệu và An Ninh thì có sự chống cự có qui củ của công giáo, nên
Văn Thân càng tỏ ra hung tợn hơn.
b) Trà Kiệu : Theo Teysseyre ("Mgr. Galibert"),
Trà Kiệu bị vây vào 1/9/1885. Thừa sai Bruyère, cha sở Trà Kiệu, với chỉ
có vài cây súng nhưng từ khi bị Văn Thân bao vây, ông tổ chức cho dân làng
làm giáo mác ngày đêm. Teysseyre chia 350 trai tráng có thể cầm khí giới
thành 7 tiểu đội tự vệ và ngoài ra còn có 500 đàn bà làm binh thủ thành
và cấp cứụ Thật ra với chỉ bao nhiêu khí giới này họ không mong sẽ bảo
vệ được mạng sống. Văn Thân đi đến từ 4 phía và rượt đuổi công giáo từ
vùng núi Kim Sơn về Trà Kiệu, la hét vang dội cả một góc trời. Thấy Văn
Thân dữ dằn, công giáo Trà Kiệu cảm thấy nãn lòng. Tuy nhiên, thừa sai
Bruyère là người đặc biệt tôn sùng Ðức bà Maria, mời gọi chức dịch trong
làng và thuyết phục họ đừng sợ hãy trông cậy vào Ðức Mẹ hằng cứu giúp,
hơn nữa kháng cự để bảo vệ mạng sống là một việc cần thiết; họ đã đồng
thanh đặt lòng tin vào Bà Maria, bầu bà là nữ tướng của họ. Mỗi lần xuất
quân, tất cả ông già bà lão trẻ con đều dến trước tượng của bà để xin sự
phù hộ cho những người công giáo cầm gươm giáo vì bất đắc dĩ chống lại
Văn Thân. Văn Thân không đánh đêm, vì nếu đánh đêm họ sợ công giáo sẽ chạy
thoát được. Họ canh đêm rất nghiêm ngặt, cứ 5 phút họ cho loa rao rằng
:"Các Ðội, các Vệ phải canh cho cẩn mật, đừng để đứa nào thoát được", rồi
khắp nơi nghe tiếng dạ vang ầm lên làm cho họ đạo phải rợn tóc gáy. Công
giáo đã đẩy lui nhiều đợt tấn công, nhưng tới đợt thư ' 5 thì vì Văn Thân
quá đông, họ không thể cầm cự được nửa nên định ra hàng; tuy nhiên không
ai dám đị Trước bước đường cùng, công giáo được khuyến khích cho lên tinh
thần và có ngươ `i tung tin rằng sẽ có thừa sai Maillard đem người ra cứu
họ. Nghe vậy, họ đã tử chiến và Văn Thân phải thất bại trước đợt tấn công
nàỵ Thực ra bên Văn Thân không có người cầm quân, chẳng ai muốn nghe ai,
toán nào đánh thì cứ đánh, toán khác thì đứng xem. Sau đó họ tổ chức nhiều
đợt tấn công nữa với quân chi viện và súng đại bác; có lần họ xâm nhập
vào tới trung tâm của Trà kiệu mà không giết được công giáo. Trong một
lần khác, họ đem voi đến xáp trận, nhưng có một thanh niên lanh trí cầm
đuốc xông vào giữa đàn voi khiến cho voi bỏ chạy. Sau trận này Văn Thân
đem bộ tham mưu của họ đến đóng trong một ngôi chùa.
Trong ngày cầm cự thứ 21, binh sĩ công giáo đã
chiếm núi Trọc; đình chùa miếu và nhà các sư cháy ngùn ngụt; dân bên lương
tưởng rằng công giáo trả thù bằng cách đốt chùa ; thật ra nơi bị đốt phá
là đại bản doanh của Văn Thân. Vào tối hôm đó, họ đã quây quần bên ảnh
Ðức Bà Maria để cám ơn bà cho họ sức mạnh qua khỏi nghịch cảnh. Khác với
Trà Kiệu, những nơi không chống cự đều bị giết. Ngày 6/9/1885, Văn Thân
chiếm Quảng Trị và kéo quân vây các họ đạọ Các giáo hữu của các họ Dinh
Cát, Nhu Lý, Bố Liêu, Ðầu Kênh, Ðại Lộc, Dương Lộc, Thanh Hương, Kẻ Văn,
Cam Lộ, Mai Xá Rú, Vạn Thiện, Bái Sơn, An Hòa, Di Loan, An Ninh, An Bằng
đều bị Văn Thân sát hại.
c) An Ninh : Theo Ravier ("Sử Ký Hội Thánh"),
Launay ("La Société des Missions Étrangères Pendant la Guerre du Tonkin")
và Jabouille ("Một Trang Huyết Lệ Trong Lịch Sử Quảng Trị") thì vào 10/9/1885
dân làng Tùng Luật, dưới sự đốc suất của Văn Thân, vây đánh họ đạo Di Loan
và chủng viện tại đây. Thất bại, Văn Thân đã đốt chủng viện.
Từ Ðồng Hới, thừa sai Héry dã gởi người đem súng
và đạn dư ợc tới để bảo vệ họ đạo. Văn Thân đóng đại đồn ở Tân Sài với
3000 quân, trong khi công giáo chỉ có 800 trai tráng, nhưng lực lượng này
càng ngày càng yếu đi vì giáo dân chết mòn dần. Ngày 12/9/1885, Văn Thân
lại vây đánh họ Di Loan để 2 họ đạo Di Loan và An Ninh khỏi giúp nhau;
Di Loan bị đánh mạnh hơn vì Văn Thân biết nơi đây không có đạn dược và
đồn lũỵ Thừa sai Dangelzer đem 1000 giáo dân Di Loan chạy về An Ninh. Sau
khi đốt phá xong Di Loan, Văn Thân tập trung để làm thịt họ An Ninh.
Họ An Ninh có 5 linh mục VN, 3 thừa sai, 7 chủng
sinh, 60 bà phước và 4000 giáo dân. Mỗi học sinh của chủng viện được phân
công chỉ huy 1 đại độị Lương thực chỉ đủ dùng trong 20 ngày; đạn dược đã
gần cạn. Tháp nhà thờ là nơi được dùng để làm chòi canh phòng ngừa giặc
Văn Thân đến bất thình lình. Ngày 15/9/1885 và các ngày kế tiếp, Văn Thân
chuẩn bị cho một cuộc tấn công lớn, họ nhận đạn dược và khí giới của đồn
Cam Lộ kế cận. Các lương dân đem rơm, tre để đốt rào; Văn Thân vượt qua
chỗ rào bị cháy và tiến vào làng, nhưng họ gặp sức kháng cự của công giáo.
85 Văn Thân đã mất mạng.
Vào 2/10/1885, quân Pháp đánh đồn của Văn Thân
ở Tân Sài, do đó giáo dân ở An Ninh không còn bị sức ép của Văn Thân nữa.
Sau những năm bắt đạo và chữ Trung Trong năm 1886, uy thế của vua Hàm Nghi
rất lẫy lừng, dân lưu luyến ông và đâu đâu cũng gởi lương thực và khí giới
cho quan quân của Hàm Nghị Nhưng lãnh binh Trương Quang Ngọc đã làm phản,
Hàm Nghi bị bắt tại suối Ba Lộc giáp Bình Chính và Hà Tĩnh vào ngày 4/11/1888.
Theo Delvaux ("Quelques Précisions sur une Période
Troublée de l'Histoire d'Annam"), hôm 6/11/1888 khi Hàm Nghi rời bỏ Thanh
Lang, dù biết Hàm Nghi là người chủ mưu các cuộc bắt đạo, nhưng một vị
linh mục làng Truông đến dâng cho vua một cái cáng bịt bùng có ý che đậy
sự tọc mạch của dân; vị linh mục này còn sai 12 giáo dân ăn mặc lễ phục
thay nhau khiêng cáng cho vua.
Hàm Nghi cảm động vì nghĩa cử này, hỏi linh mục
:
"Quí danh ông là gì ?". Vị linh mục trả lời :
"Xưa kia tôi có học chữ Hán, tôi chỉ nhớ một
chữ Trung. Hàm Nghi hiểu ý trả lời :
- Cám ơn ông.
Sau khi Hàm Nghi bị bắt, phong trào Văn Thân
nguội dần. Bức màn hoà bình đã sụp xuống trên sân khấu mà trước đó người
ta đã chứng kiến bao cuộc đổ máu tương tàn đồng bào của mình thật là lâu
dài và bi thảm, đã làm cho đất nước càng suy yếu thêm. Kết luận Chúng ta
vừa đi qua một đoạn dường đầy thảm khốc của đạo Cô ng giáo qua các đời
vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức và Hàm Nghị Có thể coi đây là
một cuốn phim sống động diễn ra trước mắt chúng ta những cái chết của các
vị thừa sai ngoại quốc và linh mục VN, của những giáo dân từ già tới trẻ
chỉ vì muốn giữ vững tín ngưỡng của mình. Lương giáo đều một nhà, đều là
con của Rồng và Tiên. Trước khi có Tam Giáo Ðdồng Nguyên (Khổng-Thích-Lão)
từ ...n Ðộ và Tàu truyền sang và đạo Công giáo từ Tây phương truyền vào,
người Việt đều biết đạo xử thế, đạo làm người, đạo thờ Trời, đạo thờ kính
ô ng bà. Các đạo trên không đạo nào dạy phải ăn ở bất nhân hay bất nghĩa
với đồng loại; mỗi đạo quan niệm sự thờ kính ông bà khác nhaụ Nhưng Tam
Giáo Ðồng Nguyên truyền vào VN từ trước đã tự cho mình là "đạo dân tộc",
tìm cách bôi bác và bắt hại không thương tiếc những người theo Công giáo,
họ khăng khăng tự cho mình là "chính thống" của dân tộc. Kết quả của các
chính sách thiếu khôn ngoan của nhà Nguyễn và cả triều đình đã làm cho
dân tộc bị phân ly, tạo nên những cảnh chém giết tàn bạọ Ðiều quan trọng
cần phải nhấn mạnh là không nên lý luận Tam Giáo Ðồng Nguyên đã giết và
cấm đạo Công giáo vì các vị vua cầm quyền là những người theo Tam Giáo
Ðồng Nguyên. Lý do dễ hiểu là trách nhiệm giết và cấm đạo là do chế độ
quân chủ phong kiến. Trong thời này vua cầm vận mệnh nước, chứ không phải
đa số nhân dân cầm vận mệnh đất nước.
Theo Trần Ngọc Thụ ("Vụ Án Phong Thánh") :
Từ năm 1615 - 1800 : từ đời các Chúa Nguyễn Phúc
Nguyên sang tới đời Chúa Trịnh đến đời Nguyễn Tây Sơn (Thái Ðức và Cảnh
Thịnh) : 30,000 giáo dân đã bị giết.
Từ năm 1820 - 1883 dưới các đời vua Minh Mạng,
Thiệu Trị và Tự Ðức : 40,000 người bị giết.
Từ 1885 - 1886 : chỉ nguyên có một năm trời mà
thôi, dưới trào Văn Thân có tới khoảng 60,000 người công giáo bị giết.
Tổng cộng sơ khởi của các vụ thảm sát :
- 150 linh mục VN.
- 438 thầy giảng và chủng sinh.
- 270 nữ tu dòng Mến Thánh Giá.
- 99,182 giáo dân.
Trong 117 vị được tôn làm thánh ngày 19/6/1988
thì :
- 1740 - 1767 : 2 vị bị xử dưới thời Trịnh Doanh.
- 1767 - 1782 : 2 vị bị xử dưới thời Trịnh Sâm.
- 1782 - 1802 : 2 vị bị xử dưới thời Cảnh Thịnh
Nhà Tây Sơn.
- 1820 - 1840 : 58 vị bị xử dưới thời Minh Mạng.
- 1840 - 1847 : 3 vị đã tử vì đạo trong thời
Thiệu Trị.
- 1840 - 1883 : 50 vị bị xử dưới thời Tự Ðức.
Các cực hình đau khổ gồm có :
- 5 bị xử trảm (chém đầu).
- 22 bị xử giảo (bị giây thừng thắt cổ).
- 9 bị tra tấn và chết rũ tù.
- 6 bị thiêu sống.
- 5 bị xử lăng trì (bị xẻo thịt, cắt từng mãnh
của thân thể cho tới chết).
Tính theo thành phần quốc tịch được tôn thánh
:
Việt Nam có 96 vị trong đó có 37 linh mục và 59
giáo dân.
Tây Ban Nha có 11 vị gồm 6 giám mục và 5 linh
mục.
Pháp có 10 vị trong đó có 2 giám mục và 8 linh
mục.
Trong gần 300 năm, có vào khoảng 130,000 người
công giáo đã bị giết.
Ta vẫn còn nghe văng vẳng đâu đó lập luận trong
vài cuốn sách "hiện đại" đã phê bình nghiệt ngã và bất công công cuộc truyền
bá đạo này tại VN với việc thực dân Pháp đặt nền thống trị và chiếm cứ
VN; nó xuất phát từ thời Nguyễn Ánh đang tranh bá đồ vương với Trịnh Lê
và nhà Tây Sơn. Trước khi làm chúa sơn lâm thì Gia Long đã phải nhờ vả
Bá-Ða-Lộc; sau khi lấy được giang sơn, ông đã quay mặt đi với người đã
từng chân thành giúp ông. Các con của ông và triều thần đã trở mặt tàn
sát người công giáo với đủ mọi lý do cho dù họ vẫn trung thành với đất
nước. Theo quan niệm Nho giáo, khi đã có quần chúng thì phải có quân hay
vuạ Quân giữ cái chủ quyền để chịu tất cả trách nhiệm về sinh hoạt và tính
mạng của dân. Cái chủ quyền này gọi là "thần khí", nghĩa là một vật thiêng
liêng do trời ban cho, nghĩa là dân thuận thì mới được giữ. Nhưng người
gian ác chiếm giữ cái "thần khi" đó thì sao ? Trần Trọng Kim ("Việt Nam
Sử Lược") phê bình rằng : "Ngay những người đã làm đế vương mà lạm dụng
chủ quyền để làm những điều tàn bạo cũng chỉ là người tàn tặc mà thôi,
chứ không phải là thật bậc đế vương nữạ" Ðào Ðăng Vỹ ("Nguyễn Tri Phương")
đã viết : "Ai đã đọc qua cuốn Tuy Lý Vương của Trần Thanh Mại, thì biết
cái cảnh sa đọa của con cháu nhà vua Tự Ðức. Các nho sĩ trong nước thì
chỉ theo cái học từ chương Tống Nho để thi đậu làm quan, gặp việc gì ở
đời cũng đem Ngũ Kinh, Tứ Thư ra dẫn chư 'ng, mỗi lời nói thường viện dẫn
những Khổng Tử viết, Mạnh Tử viết, chứ không tìm tòi thêm nữa." Trần Trọng
Kim ("Việt nam Sử lược") : "Lúc bấy giờ không phải chỉ một mình nhà vua
ghét đạo mà thôi, phần nhiều những quan lại cũng đều một ý cả, cho nên
sự cấm đạo càng nghiệt thêm." Còn về phong trào Văn Thân và Cần Vương là
2 phong trào mà vài cuốn sách dám cho là ởchủ điểm đấu tranh của các bản
cương lĩnh chính trị để thể hiện cái ước vọng lớn lao và đại chúng của
nhân dân là "giết đạo" trước rồi "đánh Tây sau"ở thì sao ? Ta đã thấy trước
khi có phong trào Văn Thân vào 1847 (năm Tự Ðức thứ 27, phong trào này
xuất hiện chống cả triều đình khi lực lượng càng tỏ ra quá khích ) thì
đã có những cuộc bắt đạo thảm khốc rồị Phong trào Cần Vương xuất hiện vào
24/4/1885 sau khi có binh biến ở kinh đô, đồn Mang Cá thất thủ, vua Hàm
Nghi trốn ra Quảng Trị; Tôn Thất Thuyết ở Quảng Bình làm hịch Cần Vương
truyền đi các nơi. Chỗ nào sĩ dân cũng nổi lên, đổ cho dân công giáo gây
mốI loạn, rồi tạo nên các cảnh tàn sát. Trong "Việt Nam Pháp thuộc sử",
Phan Khoang có viết : "Vào cuối thế kỷ 17, ở Ðàng Trong cũng như ở Ðàng
Ngoài, việc truyền bá đạo Thiên Chúa bị cấm nghiêm, nhiều lần giáo đồ bị
giết, giáo sĩ bị bắt giam, có khi bị hành hạ tới chết. Năm 1698, Chúa Minh
Vương bắt giáo sĩ, giết giáo đồ. Năm 1696, Chúa Trịn Căn đốt hết sách đạo,
các giáo đường, và đuổi các giáo sĩ. Nguyên do không có gì hơn là các thầy
Tăng đạo Phật, thầy cúng đạo Giáo, đương thịnh, thời không thiếu gì lời
gièm phạ Và Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn thấy người Âu Châu không giúp được
mình như ý muốn trông đợi để thắng kẻ địch, cũng khô ng nể vì nữạ" Như
vậy việc "sát tả" thì đã có từ lâu trước Văn Thân, còn "bình Tây" thì phải
đợi đến 1875 mới có Tây mà sát. Nói một cách khác từ 1627 khi chưa có nền
đô hộ của Pháp thì đã có câ 'm và giết đạo rồị Như thế việc giết đạo và
cấm đạo chỉ là do mối thù tín ngưỡng hơn là chính trị vì trước đó cũng
như từ năm 1800, khởi triều của vua Gia Long, qua Minh Mạng, hết Thiệu
Trị, đến Tự Ðức vào năm 1847 thì Pháp chưa đặt nền đô hộ tại VN. Theo Trịnh
Việt Yên ("Máu Tử Ðạo Trên Ðất Việt Nam") thì lý do của các thảm cảnh cho
đạo này là : "Ðạo Công giáo bị coi lầm là một tà đạo, có thể làm nguy hại
đến thuần phong mỹ tục và những tập quán cổ truyền trong nước, có những
kẻ theo đạo thì bị người khác cho là những kẻ đi ngược lại với luân thường
đạo lý, có thể làm đảo ngược trật tự cựu truyền. Sau cùng nó đã trở thành
một mối hận ghen ghét không gì có thể làm dịu lại được. Chính mối nguy
hại thù ghét đó đã biến các giáo sĩ và người công giáo trở thành những
kẻ thù không đội trời chung của vua quan, có lúc của cả dâ n Việt. Chính
đó là nguyên nhân gây nên thảm cảnh cốt nhục tươ ng tàn giữa anh em đồng
bào lương giáo về cuối thế kỷ 19, và đã làm đổ máu từng trăm ngàn người
vô tội." Chính sự thù ghét này đã tạo nên bao việc ghép tội mà những người
chủ động khuyến khích là giới cầm quyền hủ Nho. Mặt khác, ta càng không
thể lý luận như sau : công giáo là đạo của Tây, đạo Công giáo đã theo Tây,
đạo Công giáo đã đem Thực dân Pháp vào Việt Nam; cũng như ta cũng không
thể lý luận rằng đạo Phật là đạo của Tàu, đạo Phật đã theo Tàu, và đạo
Phật cũng đã đem Tàu vào nước ta, cho dù 1000 năm đô hộ giặc Tàu so với
100 năm đô hộ của giặc Tây còn khủng khiếp hơn nhiều. Sự thù ghét cổ súy
bởi những ma đầu trong lịch sử VN đã gây cho dân tộc này sống dở chết dở
và về sau nữạ Vào thế kỷ này, một người tên Hồ Chí Minh đã tạo nên một
sự thù hận khác : thù hận về giai cấp; đặc biệt hơn nữa, nền văn hóa dân
tộc từ lâu đời không được làm cho tiến bộ thêm mà còn bị hủy diệt. Một
điều thấy rõ là nền văn hóa của ta được làm cho phong phú hơn, cập nhật
hóa hơn bởI sự du nhập của Công giáo, nhưng lại bị kềm hãm bởi nền văn
hóa Mác-xít. Thế là một cuộc bể dâu khác đã diễn rạ..Ngày nào dân tộc VN
chưa có dân chủ và tự do thật sự, họ sẽ còn ở trong vòng lẩn quẩn của các
triêu đại phong kiến và siêu phong kiến.
Tài liệu tham khảo :
- Việt Nam Giáo Sử; Phan Phát
Huồn; Cứu Thế Tùng Thư, 1965.
- Việt Nam Sử Lược; Trần Trọng
Kim; 1971.
- Việt Sử Toàn Thư; Phạm Văn
Sơn; nxb Ðại Nam, 1983.
- Việt Nam Pháp Thuộc Sử; Phan
Khoang (1907-1971); nxb Khai Trí, 1961.
- Nguyễn Tri Phương; Ðào Ðăng
Vỹ; nxb H.T. Kelton; 198?
- Vụ Án Phong Thánh; Trần Ngọc
Thụ.
- Việt Nam Văn Minh Sử Cương;
Lê Văn Siêu; nxb Lá Bối, 1967.
- Văn học sử thời kháng Pháp
: 1858-1945; Lê Văn Siêu; nxb Xuân Thu, 1991.
- Ðạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa
Thực Dân Tại VN 1857-1914; Cao Huy Thuần; nxb Hương Quê.
- Vietnam : History, Documents,
and Opinions on a Major World Crisis by M..E Gettleman; Greenwich, Conn.
: Fawcett Publications, 1965.
- Lịch sử nội chiến ở Việt Nam
(1771-1802); Tạ Chí Ðõi Trường; Văn Sử Học, 1973.
- Quảng Trị : Mạch đất tình người;
Lê Thọ Giáo; 1990.
- Tiếng Việt và chữ quốc ngữ
trải qua thời đại; Biên khảo của Quán Phong; Ði Tới, số (?), 1995.
hytran@my-dejanews.com Post in
Soc.Culture.Vietnamese date: Friday Nov. 13th, 1998

Live Stats For Website